Từ đầu năm 2020 đến nay, đại dịch Covid-19 đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều lĩnh vực, trong đó có quan hệ pháp luật dân sự nói riêng. Vậy vấn đề trở ngại khách quan đến từ dịch Covid-19 trong hợp đồng có gây ảnh hưởng gì đến các vấn đề liên quan đến hợp đồng? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc giải đáp thắc mắc ấy.

dịch covid-19 gây ảnh hưởng lớn đến quan hệ pháp luật dân sự

Dịch Covid-19 gây ảnh hưởng lớn đến quan hệ pháp luật dân sự

>>Xem thêm: Hướng xử lý khi công an triệu tập do đăng tin dịch Covid trên Facebook

Dịch Covid-19 là trở ngại khách quan

Pháp luật Việt Nam quy định về trở ngại khách quan

Theo Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 thì trở ngại khách quan được hiểu là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ không thể biết hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.

Bên cạnh đó, tại điểm b khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP có định nghĩa trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động như: thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu…

Các trở ngại khách quan trong dịch Covid-19

Dịch bệnh Covid-19 ngày càng phức tạp, nhiều tỉnh thành phố quyết định áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 làm cho các hoạt động giao dịch dân sự bị chậm trễ, gây cản trở trong việc thực hiện hợp đồng. Các hoạt động giao thương của người dân bị hạn chế, hàng quán không được buôn bán, hay các chợ truyền thống bị buộc phải đóng cửa chống dịch, người dân không được ra khỏi nhà.

Khi xét đến yếu tố ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến việc thực hiện hợp đồng, chúng ta không xem xét đến ảnh hưởng của dịch bệnh đến chủ thể thực hiện hợp đồng. Mà lúc này, chúng ta xem xét sự tác động từ các hành vi, quyết định, văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19, ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng của các bên.

Quyền và nghĩa vụ giữa các bên khi không thể thực hiện hợp đồng do gặp trở ngại khách quan

Vì dịch Covid-19 ngày càng nghiêm trọng, người dân phải thực hiện giãn cách xã hội, hạn chế việc đi lại, giao thương buôn bán nên nhiều người không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình trong hợp đồng.

Tại khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Để tránh lẫn lộn giữa trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ hợp đồng, tại khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định trách nhiệm dân sự được hiểu là trách nhiệm phát sinh do bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ đối với bên có quyền. Trong khi đó, nghĩa vụ hợp đồng là nghĩa vụ của các bên phát sinh từ các thỏa thuận trong hợp đồng. Về nguyên tắc, nghĩa vụ hợp đồng không được miễn trừ, trừ trường hợp bên có quyền từ bỏ hoặc chủ động miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đó. Còn trách nhiệm dân sự chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm hợp đồng, bao gồm phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên. Trách nhiệm dân sự có thể được miễn trong một số trường hợp, như gặp phải sự kiện bất khả kháng.

Do đó, trường hợp một bên vi phạm hợp đồng do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, thì bên đó không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng với bên bị vi phạm (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác), nhưng sẽ không được miễn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với bên còn lại, trừ trường hợp bên có quyền chủ động miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ đó.

Theo khoản 1 Điều 354 Bộ luật Dân sự 2015, khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn, bên có nghĩa vụ có thể đề nghị được hoãn thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền biết, nếu không sẽ phải bồi thường thiệt hại phát sinh (trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do nguyên nhân khách quan không thể thông báo).

khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn, bên có nghĩa vụ có thể đề nghị được hoãn thực hiện nghĩa vụ

Khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn, bên có nghĩa vụ có thể đề nghị được hoãn thực hiện nghĩa vụ

>>>Xem thêm: Quy định pháp luật tổng quan về hợp đồng dân sự

Bồi thường thiệt hại cho bên có quyền

Như đã đề cập ở trên, trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường phần thiệt hại phát sinh theo Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015. Thiệt hại có thể phát sinh do vi phạm nghĩa vụ bao gồm:

  • Thiệt hại về vật chất: Tổn hại vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
  • Thiệt hại về tinh thần: Tổn thất tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.

Nếu phần thiệt hại phát sinh đó là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng mức độ lỗi của mình, căn cứ vào Điều 363 Bộ luật Dân sự 2015.

Mặc dù Bộ luật Dân sự 2015 không có quy định về trách nhiệm bắt buộc phải chia sẻ thiệt hại do gặp phải hợp đồng trở ngại khách quan, nhưng bên bị thiệt hại hoàn toàn có quyền đề nghị bên kia xem xét miễn/giảm các nghĩa vụ tài chính liên quan để chia sẻ thiệt hại với mình, vì bản chất của trở ngại khách quan là những trở ngại ngoài khả năng tiên liệu của cả hai bên, chứ không phải do lỗi của bên không thực hiện đúng nghĩa vụ đó.

bồi thường thiệt hại cho bên có quyền

Bồi thường thiệt hại cho bên có quyền

>>>Xem thêm: Mức phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong giải quyết tranh chấp thương mại

Giải quyết tranh chấp khi hợp đồng không thể thực hiện

Hiện nay, các tranh chấp hợp đồng thường được giải quyết thông qua bốn phương thức chính sau:

  • Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua thương lượng: là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được giải quyết bằng phương thức này. Nhà nước khuyến khích các bên áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết các tranh chấp trên nguyên tắc tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên.
  • Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua hòa giải: Hòa giải là các bên tranh chấp thông qua bên trung gian (Hòa giải viên/ trung tâm hòa giải) cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thống nhất một phương án giải quyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đã thỏa thuận qua hòa giải.
  • Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua Trọng tài: Tức là các bên thỏa thuận đưa ra những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tại Trọng tài và Trọng tài sau khi xem xét sự việc tranh chấp, sẽ đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.
  • Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua Tòa án: Đây là phương thức giải quyết tranh chấp mà các bên thông qua cơ quan tiến hành tố tụng để giải quyết.

>>>Xem thêm: Có được lựa chọn Trọng tài để giải quyết tranh chấp khi không có thỏa thuận trọng tài?

Như vậy, dịch Covid-19 là một trở ngại khách quan và ảnh hưởng đến mọi người, làm cho các bên trong giao dịch dân sự không thể thực hiện đúng với nghĩa vụ của mình. Bên cạnh đó, các bên khi thấy mình không thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, cần thông báo đến bên còn lại để tìm các biện pháp khắc phục tránh gây ra các thiệt hại không đáng có.

Trên đây là bài viết tư vấn về vấn đề trở ngại khách quan đến từ dịch Covid-19 trong hợp đồng. Nếu quý bạn đọc còn bất kỳ thắc mắc hoặc cần tư vấn thêm về luật dân sự xin vui lòng liên hệ HOTLINE 1900.63.63.87 để được TƯ VẤN LUẬT HỢP ĐỒNG tư vấn. Xin cảm ơn.

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: chuyentuvanluat@gmail.com.

Scores: 4.5 (16 votes)

  Hotline: 1900.63.63.87