Thỏa thuận nuôi con chung chỉ có hiệu lực pháp lý khi không? Câu hỏi này xuất phát từ thực tế nhiều người cho rằng việc nuôi con sau ly hôn hoàn toàn do cha mẹ tự quyết. Theo quy định của Luật HNGĐ thì Luật tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng nhưng phải đảm bảo quyền lợi tối đa về mọi mặt cho con. Những thỏa thuận đi ngược lại, xâm phạm quyền bảo vệ trẻ em sẽ bị vô hiệu và cơ quan có thẩm quyền sẽ tự quyết định dựa trên quy định pháp luật. Mọi thỏa thuận về nuôi con đều phải đặt trong giới hạn bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ. Chuyên tư vấn luật sẽ phân tích về vấn đề này trong bài viết dưới đây:

Mục Lục
- Thỏa thuận nuôi con chung trong bối cảnh vợ chồng ly hôn
- Thỏa thuận nuôi con chung trước khi thực hiện thủ tục ly hôn
- Thỏa thuận nuôi con chung sau khi ly hôn
- Câu hỏi thường gặp về hiệu lực pháp lý của thỏa thuận nuôi con chung
- Thỏa thuận nuôi con chung có đương nhiên có hiệu lực pháp luật không?
- Thỏa thuận nuôi con được ghi nhận trong bản án có giá trị thế nào?
- Trường hợp nào Tòa án bác bỏ thỏa thuận nuôi con của cha mẹ?
- Điều kiện để thỏa thuận trước ly hôn được xem là hợp lệ là gì?
- Căn cứ yêu cầu thay đổi quyền nuôi con sau ky hôn?
- Khi nào xét nguyện vọng của con khi xác định quyền nuôi con?
- Cha mẹ bị hạn chế quyền nuôi con trong trường hợp nào?
- Dịch vự luật sư tư vấn soạn thảo thỏa thuận nuôi con chung
- Kết luận
Thỏa thuận nuôi con chung trong bối cảnh vợ chồng ly hôn
Khi giải quyết ly hôn, tòa án ưu tiên ghi nhận thỏa thuận của vợ chồng về các vấn đề liên quan đến con chung, bao gồm:
- Người trực tiếp nuôi con;
- Mức cấp dưỡng cho con;
- Cách thức chăm sóc, thăm nom, giáo dục con.
Nếu thỏa thuận này đảm bảo toàn diện quyền lợi của con, bao gồm vật chất, tinh thần, chỗ ở, học tập, sức khỏe và sự phát triển toàn diện, tòa án sẽ ghi nhận thỏa thuận trong bản án hoặc quyết định ly hôn. Từ đó thỏa thuận trở thành một phần của bản án và có hiệu lực pháp luật bắt buộc thi hành.
Trong trường hợp thỏa thuận làm giảm sút nghiêm trọng quyền lợi của con, như không xác định nghĩa vụ cấp dưỡng, giao con cho người không đủ năng lực chăm sóc, hoặc nhằm né tránh trách nhiệm của cha mẹ, thì Tòa án không bị ràng buộc bởi sự thống nhất đó. Khi đó, Tòa án có quyền tự quyết định người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng theo tiêu chí lợi ích tốt nhất của trẻ, dù hai bên đã đạt được “thỏa thuận”.
Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 68, Điều 81, Điều 82 và Điều LHNGĐ.
Thỏa thuận nuôi con chung trước khi thực hiện thủ tục ly hôn
Trước khi Tòa án thụ lý vụ việc ly hôn, việc vợ chồng tự lập văn bản thỏa thuận về nuôi con được xem là một giao dịch dân sự theo quy định chung của Bộ luật dân 2015 (BLDS). Do đó, để có hiệu lực, thỏa thuận này phải được xác lập bởi các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối theo quy định tại Điều 117 BLDS.
Mặc dù được xác lập hợp pháp về hình thức với tư cách là một giao dịch dân sự, thỏa thuận nuôi con trước ly hôn vẫn không được vượt quá khuôn khổ pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội. Theo đó, nếu thỏa thuận có mục đích né tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chuyển giao trách nhiệm nuôi con cho người khác hoặc xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, thì bị xem là trái luật và không được pháp luật thừa nhận. Khi đó, thỏa thuận không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên.
Bên cạnh đó, do được xác lập ngoài tố tụng nên thỏa thuận nuôi con trước khi ly hôn không có tính bắt buộc thi hành. Khi phát sinh tranh chấp và vụ việc được đưa ra Tòa án giải quyết, thỏa thuận này chỉ được xem là một nguồn chứng cứ chứ không phải căn cứ quyết định bắt buộc đối với Hội đồng xét xử.
>> Xem thêm: Thỏa thuận về quyền nuôi con khi ly hôn: Mẫu và lưu ý
Thỏa thuận nuôi con chung sau khi ly hôn
Trong thực tiễn, cơ quan thi hành án luôn khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết của Tòa án và cho phép đương sự thỏa thuận lại về cách thức thực hiện nghĩa vụ, nhằm bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp với điều kiện thực tế của các bên.
Mặc dù được phép thỏa thuận trong quá trình thi hành án, nhưng nội dung thỏa thuận mới không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của con và không được làm thay đổi trái phép nội dung bản án đã có hiệu lực. Trường hợp thỏa thuận gây phương hại đến trẻ em, chấp hành viên có quyền yêu cầu các bên thực hiện đúng theo bản án, quyết định của Tòa án, nhằm bảo đảm tính nghiêm minh và ổn định của phán quyết tư pháp.
Ngoài ra, nếu các bên muốn công nhận thỏa thuận mới hoặc phát sinh tranh chấp, họ có quyền yêu cầu tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, dựa trên nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Thỏa thuận sau ly hôn vẫn giúp các bên linh hoạt trong việc chăm sóc con, giảm xung đột và hỗ trợ cơ quan thi hành án trong việc thực hiện bản án, nhưng không vượt quyền hạn pháp lý của tòa án trong việc bảo vệ quyền lợi con cái.
>> Xem thêm: Thay đổi cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn: Thủ tục năm 2025

Câu hỏi thường gặp về hiệu lực pháp lý của thỏa thuận nuôi con chung
Thỏa thuận nuôi con chung có đương nhiên có hiệu lực pháp luật không?
Thỏa thuận nuôi con chung không đương nhiên có hiệu lực pháp luật, mà chỉ được công nhận khi nội dung thỏa thuận bảo đảm quyền lợi tốt nhất về mọi mặt của con. Trong quá trình giải quyết ly hôn, dù cha mẹ đã thống nhất với nhau, Tòa án vẫn có trách nhiệm xem xét, đánh giá thỏa thuận đó trên cơ sở lợi ích của trẻ em. Chỉ khi thấy thỏa thuận không làm phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của con thì mới ghi nhận trong bản án, quyết định và làm phát sinh hiệu lực pháp lý bắt buộc thi hành. Thỏa thuận này phải đảm bảo nguyên tắc Điều 68 LHNGĐ.
Thỏa thuận nuôi con được ghi nhận trong bản án có giá trị thế nào?
Khi thỏa thuận nuôi con chung của cha mẹ được Tòa án chấp nhận và ghi nhận trong bản án, quyết định ly hôn, thì thỏa thuận đó không còn chỉ là sự thống nhất ý chí giữa các bên, mà đã trở thành một phần của phán quyết tư pháp. Từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nội dung thỏa thuận có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên và được bảo đảm thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp nào Tòa án bác bỏ thỏa thuận nuôi con của cha mẹ?
Tòa án sẽ bác bỏ thỏa thuận nuôi con của cha mẹ nếu mặc dù hai bên đã thống nhất nhưng nội dung thỏa thuận đó không bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em. Cụ thể, thỏa thuận sẽ không được công nhận khi làm giảm sút nghiêm trọng quyền lợi của con về vật chất hoặc tinh thần, như không ai thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, giao con cho người không đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ làm cha, mẹ.
Ngoài ra, những thỏa thuận trái với các nguyên tắc bảo vệ trẻ em, xâm phạm quyền được chăm sóc, học tập, phát triển toàn diện của con cũng không được Tòa án chấp nhận. Trong các trường hợp này, dù cha mẹ đã “thỏa thuận”, Tòa án vẫn có quyền không công nhận và tự mình quyết định người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng trên cơ sở bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Điều kiện để thỏa thuận trước ly hôn được xem là hợp lệ là gì?
Thỏa thuận nuôi con chung được lập trước khi ly hôn chỉ được xem là hợp lệ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 BLDS. Theo đó, cha mẹ phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, việc thỏa thuận được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Đồng thời, nội dung thỏa thuận không được trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đặc biệt không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em.
Căn cứ yêu cầu thay đổi quyền nuôi con sau ky hôn?
Khoản 2 Điều 84 LHNGĐ quy định vệc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Khi nào xét nguyện vọng của con khi xác định quyền nuôi con?
Căn cứ khoản 3 Điều Điều 84 LHNGĐ quy định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
Cha mẹ bị hạn chế quyền nuôi con trong trường hợp nào?
Khoản 1 Điều 85 LHNGĐ quy định cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
- Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
- Phá tán tài sản của con;
- Có lối sống đồi trụy;
- Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Dịch vự luật sư tư vấn soạn thảo thỏa thuận nuôi con chung
Chuyên tư vấn luật cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên sâu về thỏa thuận nuôi con chung khi ly hôn với các nội dung hỗ trợ sau:
- Tư vấn toàn diện quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con trước, trong và sau khi ly hôn.
- Hỗ trợ soạn thảo thỏa thuận nuôi con, cấp dưỡng, thăm nom bảo đảm đúng pháp luật, có khả năng được Tòa án công nhận.
- Rà soát, phân tích rủi ro pháp lý của các thỏa thuận nuôi con nhằm hạn chế nguy cơ bị tuyên vô hiệu hoặc không được thi hành.
- Tham gia bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong quá trình thương lượng, hòa giải tại Tòa án về việc nuôi con và cấp dưỡng.
- Tư vấn và đại diện trong quá trình khởi kiện, yêu cầu Tòa án giao con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc điều chỉnh mức cấp dưỡng.
- Hướng dẫn thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh điều kiện nuôi con nhằm bảo đảm phán quyết của Tòa án có lợi cho trẻ em.
- Hỗ trợ pháp lý trong giai đoạn thi hành án liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng và thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con sau ly hôn.

Kết luận
Thỏa thuận nuôi con chung chỉ có hiệu lực pháp lý khi phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em. Việc hiểu đúng phạm vi và giá trị của thỏa thuận sẽ giúp cha mẹ hạn chế rủi ro tranh chấp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của con. Chuyên tư vấn Luật sẵn sàng hỗ trợ, tư vấn pháp lý kịp thời và hiệu quả. Liên hệ hotline: 1900636387.


























