Luật Hôn Nhân Gia Đình

Giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn

Giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn là nội dung quan trọng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, xuất phát từ việc các bên không thống nhất trong việc thực hiện, điều chỉnh hoặc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con. Việc áp dụng đúng các quy định pháp luật có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ quyền lợi của con và bảo đảm trách nhiệm của cha, mẹ sau ly hôn. Bài viết này, Chuyên tư vấn luật sẽ phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản và những lưu ý cần thiết khi giải quyết tranh chấp cấp dưỡng sau ly hôn.

Giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn
Giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn

Mục Lục

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án/quyết định ly hôn

Khi nghĩa vụ cấp dưỡng đã được Tòa án ghi nhận trong bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nhưng bên có nghĩa vụ không chấp hành, người được cấp dưỡng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, thông qua thủ tục thi hành án dân sự và trong trường hợp cần thiết, áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

Thực hiện thủ tục yêu cầu thi hành án theo luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014

Sau khi bản án, quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, người được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành bản án, quyết định đó nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 (LTHADS), thời hạn yêu cầu thi hành việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án, quyết định ly hôn là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để được ra quyết định thi hành án. Đơn yêu cầu thi hành án phải bảo đảm đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 31 LTHADS.

Trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án hợp lệ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án theo Điều 36 LTHADS.

Có thể yêu cầu xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự (nếu đủ căn cứ)

Căn cứ khoản 1 Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Việc xử phạt nhằm buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án, quyết định đã có hiệu lực.

Trường hợp người có nghĩa vụ đã có điều kiện thực tế để cấp dưỡng nhưng cố tình từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ. Hậu quả là làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (BLHS) mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 186 BLHS.

Trong trường hợp này, việc xử lý hình sự không thay thế nghĩa vụ cấp dưỡng mà được áp dụng song song, nhằm tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người được cấp dưỡng.

Trường hợp một trong các bên muốn thay đổi nội dung cấp dưỡng sau ly hôn

Sau ly hôn, khi hoàn cảnh của con hoặc khả năng của người cấp dưỡng thay đổi và các bên không thỏa thuận được, việc yêu cầu điều chỉnh nội dung cấp dưỡng có thể phát sinh tranh chấp và được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xác định yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn

Sau khi ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con có thể phát sinh nhiều tranh chấp do thay đổi hoàn cảnh thực tế. Các tranh chấp này thường liên quan đến mức cấp dưỡng, phương thức thực hiện hoặc thời điểm chấm dứt nghĩa vụ theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Tranh chấp thay đổi mức cấp dưỡng

Theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn có thể được điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Việc thay đổi mức cấp dưỡng trước hết được ưu tiên thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

Trên thực tế, tranh chấp về thay đổi mức cấp dưỡng thường phát sinh trong nhiều tình huống khác nhau. Phổ biến là trường hợp khi ly hôn, các bên chưa đặt ra yêu cầu cấp dưỡng hoặc chưa xác định cụ thể nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng sau đó phát sinh nhu cầu thực tế buộc phải yêu cầu Tòa án xác định mức cấp dưỡng phù hợp. Ngoài ra, bên trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu tăng mức cấp dưỡng khi chi phí sinh hoạt, học tập, y tế của con tăng lên hoặc khi thu nhập, khả năng kinh tế của bên cấp dưỡng được cải thiện.

Ngược lại, bên có nghĩa vụ cấp dưỡng cũng có quyền yêu cầu giảm mức cấp dưỡng trong trường hợp thu nhập bị giảm sút, mất việc làm, gặp khó khăn khách quan hoặc phát sinh thêm nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với người khác. Việc xem xét thay đổi mức cấp dưỡng phải bảo đảm hài hòa giữa quyền lợi chính đáng của con và khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, đồng thời tuân thủ đúng các căn cứ luật định.

Tranh chấp về phương thức, thời điểm cấp dưỡng

Ngoài tranh chấp về mức cấp dưỡng, trên thực tế còn phát sinh nhiều tranh chấp liên quan đến phương thức, hình thức và thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Theo Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, các bên có quyền thỏa thuận việc cấp dưỡng theo tháng, quý, năm hoặc cấp dưỡng một lần, phù hợp với điều kiện của người có nghĩa vụ và nhu cầu thực tế của con.

Tuy nhiên, do hoàn cảnh và quan điểm khác nhau, các bên thường không thống nhất được phương thức cấp dưỡng. Bên trực tiếp nuôi con thường yêu cầu cấp dưỡng định kỳ hàng tháng để bảo đảm chi phí sinh hoạt, học tập ổn định cho con, trong khi bên có nghĩa vụ cấp dưỡng lại đề nghị cấp dưỡng theo quý, theo năm hoặc cấp dưỡng một lần. Tranh chấp cũng phát sinh về hình thức cấp dưỡng, như chuyển khoản hay tiền mặt, địa điểm giao nhận, cũng như việc xác định nghĩa vụ cấp dưỡng có bao gồm các khoản chi phí phát sinh như học phí, chi phí y tế hay không.

Bên cạnh đó, thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là vấn đề thường gây mâu thuẫn, nhất là khi bên có nghĩa vụ cấp dưỡng chậm thực hiện, không thực hiện đúng kỳ hạn hoặc thực hiện không đầy đủ. Trường hợp các bên không tự thỏa thuận được, Tòa án sẽ xem xét, quyết định cụ thể phương thức và thời điểm cấp dưỡng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con.

Tranh chấp về thời điểm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

Tranh chấp về thời điểm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng. Điều 118 LHNGĐ quy định trường hợp chấm dứt cấp dưỡng như:

  • Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
  • Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
  • Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
  • Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
  • Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;
  • Trường hợp khác theo quy định của luật.

Tranh chấp này phát sinh khi đã chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng thoe quy định nhưng bên trực tiếp nuôi con vẫn tiếp tục yêu cầu bên cấp dưỡng thực hiện nghĩa vụ.

Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ chấm dứt khi xuất hiện các căn cứ luật định. Tranh chấp về chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh khi đã xuất hiện căn cứ theo quy định tại Điều 118 LHNGĐ như con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân hoặc đã được người khác nhận làm con nuôi hợp pháp, nhưng bên còn lại vẫn tiếp tục yêu cầu cấp dưỡng, dẫn đến việc các bên phải yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

>> Xem thêm: Khi con đã được nhận nuôi, cha mẹ đẻ có phải cấp dưỡng cho con?

Thẩm quyền tòa án giải quyết

Đối với trường hợp không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật: Căn cứ Điều 35 LTHADS sửa đổi, bổ sung 2014, 2025, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi bản án/quyết định sơ thẩm sẽ có thẩm quyền giải quyết.

Đối với trường hợp có yêu cầu thay đổi nội dung cấp dưỡng sau ly hôn: Thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án theo quy định khoản 5 Điều 28 LHNGD. Căn cứ Điều 35 và 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền Tòa án Nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú/ làm việc giải quyết sơ thẩm.

Đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ đính kèm

Khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về cấp dưỡng sau ly hôn, người khởi kiện phải nộp đơn khởi kiện theo mẫu Mẫu số 23 – DS ban hành kèm Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP. Bên cạnh đó, cần có tài liệu, chứng cứ kèm theo bao gồm:

  • Bản án/quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật (bản sao chứng thực).
  • Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực).
  • Học phí, chi phí sinh hoạt, viện phí, tiền học thêm, sách vở và các khoản chi hợp lý khác.
  • Hợp đồng lao động, bảng lương, sao kê ngân hàng.
  • Hợp đồng cho thuê tài sản, giấy tờ hoạt động kinh doanh, tài liệu chứng minh thu nhập khác.
  • Căn cước công dân và sổ hộ khẩu hoặc giấy xác nhận cư trú của các bên.
  • Tin nhắn, email yêu cầu cấp dưỡng nhưng không được thực hiện. Sao kê thể hiện việc không chuyển tiền hoặc chuyển không đầy đủ (trường hợp không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng)

Lưu ý: Đối với yêu cầu tăng/giảm mức cấp dưỡng, cần cung cấp chứng cứ so sánh giữa mức sống, thu nhập tại thời điểm hiện tại với thời điểm ly hôn và sự thay đổi về chi phí nuôi con để làm căn cứ cho Tòa án xem xét.

Hồ sơ khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng
Hồ sơ khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng

Quy trình tiếp nhận và giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn

Quy trình giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn được tiến hành như sau:

Bước 1: Giai đoạn thụ lý

Căn cứ Điều 191 BLTTDS, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

  • Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
  • Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn;
  • Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
  • Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn tạm ứng.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì trường hợp giải quyết về yêu cầu cấp dưỡng thì được miễn án phí. Căn cứ khoản 4 Điều 195 BLTTDS, Thẩm phán sẽ tiến hành thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo và đơn xin miễn giảm án phí của người yêu cầu.

Bước 2: Giai đoạn chuẩn bị xét xử

Theo khoản 1 Điều 203 BLTTDS, thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng, có thể gia hạn nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

  • Trường hợp hòa giải thành, hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
  • Trường hợp hòa giải không thành, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Bước 3: Đưa vụ án ra xét xử

Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Phiên tòa xét xử sơ thẩm được tiến hành theo trình tự nghiêm ngặt quy định từ Điều 237 đến Điều 267 BLTTDS bao gồm các phần: khai mạc phiên tòa, thủ tục hỏi, tranh tụng, nghị án và tuyên án.

Bước 4: Kháng cáo (nếu có)

Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án, trường hợp các bên đương sự không đồng ý với bản án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên thì đương sự có quyền nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại nội dung bản án.

Thời hạn các bên kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, trường hợp đương sự vắng mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời gian 15 ngày được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được tuyên án.

Trường hợp quá 15 ngày thời hạn được kháng cáo thì đương sự vẫn có quyền kháng cáo quá hạn theo Điều 275 BLTTDS.

>> Xem thêm: Thủ tục khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con sau ly hôn

Khuyến nghị của luật sư khi giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn

Về thời hiệu yêu cầu cấp dưỡng

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng đã được giải quyết bằng bản án, quyết định và không có yêu cầu thay đổi, căn cứ Điều 30 LTHADS thì thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành.

Đối với trường hợp yêu cầu xác lập mới hoặc thay đổi nội dung cấp dưỡng thì sẽ không áp dụng thời hiệu. Bởi nghĩa vụ cấp dưỡng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của con – một quyền nhân thân được pháp luật ưu tiên bảo vệ theo Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015.

Việc không yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn không làm mất quyền yêu cầu sau ly hôn

Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã nhấn mạnh trách nhiệm của Tòa án trong việc chủ động bảo vệ quyền lợi của con. Căn cứ khoản 1 Điều 7 Nghị quyết hướng dẫn trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng. Trường hợp này Tòa án giải thích cho họ việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng cho con.

Ngoài ra, trường hợp khi ly hôn các bên không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng cho con thì trên tinh thần quyền lợi của con và nghĩa vụ của cha mẹ thì người trực tiếp nuôi con vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng.

Thu thập đầy đủ chứng cứ về chi phí nuôi con và thu nhập thực tế của người cấp dưỡng

Tòa án chỉ có thể điều chỉnh mức cấp dưỡng khi có căn cứ chứng minh rõ ràng về sự gia tăng nhu cầu sinh hoạt, học tập, y tế của con cũng như khả năng kinh tế thực tế của người cấp dưỡng. Trong thực tiễn, nhiều trường hợp người có nghĩa vụ không kê khai đầy đủ thu nhập. Do đó, việc cung cấp các chứng cứ gián tiếp như sao kê tài khoản, giao dịch tài sản, hợp đồng cho thuê, hoạt động kinh doanh, mức chi tiêu thực tế… sẽ giúp Tòa án đánh giá đúng khả năng cấp dưỡng và bảo đảm quyền lợi chính đáng của con.

Tiền cấp dưỡng cho con được tính dựa trên căn cứ nào?

Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.

Dịch vụ luật sư tư vấn tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn

Chuyên tư vấn luật hỗ trợ khi giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn bao gồm:

  • Tư vấn quy định pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn.
  • Tư vấn về cấp dưỡng con khi ly hôn.
  • Đánh giá căn cứ pháp lý và khả năng Tòa án chấp nhận yêu cầu tăng, giảm, thay đổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • Hướng dẫn thu thập, chuẩn bị hồ sơ, tài liệu, chứng cứ chứng minh chi phí nuôi con và khả năng tài chính thực tế của người cấp dưỡng.
  • Soạn thảo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và các văn bản tố tụng có liên quan.
  • Đại diện theo ủy quyền làm việc với Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
  • Tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm (nếu có).
  • Hỗ trợ thương lượng, hòa giải nhằm đạt được thỏa thuận phù hợp, bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho con.
Tư vấn giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con
Tư vấn giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con

Câu hỏi thường gặp khi giải quyết tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn

Không yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn thì sau này có được yêu cầu không?

Căn cứ khoản 2 Điều 82 LHNGĐ và Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, Việc không yêu cầu cấp dưỡng tại thời điểm ly hôn không làm mất quyền yêu cầu cấp dưỡng sau này. Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của cha, mẹ đối với con chưa thành niên và là quyền lợi của con, không phụ thuộc vào ý chí của cha hoặc mẹ khi giải quyết ly hôn. Do đó, sau ly hôn, người trực tiếp nuôi con hoặc người đại diện hợp pháp của con vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên còn lại thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nếu có căn cứ.

Ai có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn?

Căn cứ khoản 2 Điều 82, Điều 110 LHNGĐ, người trực tiếp nuôi con hoặc người đại diện hợp pháp của con có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Việc yêu cầu cấp dưỡng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình.

Con đủ 18 tuổi thì nghĩa vụ cấp dưỡng có chấm dứt không?

Căn cứ Điều 110, Điều 118 LHNGĐ, thông thường, nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt khi con đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, trong trường hợp con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, cha, mẹ vẫn có nghĩa vụ tiếp tục cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Hình thức cấp dưỡng có bắt buộc phải chuyển khoản không?

Hình thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng không giới hạn ở việc chuyển khoản mà có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như chuyển khoản, nộp trực tiếp hoặc thông qua bên thứ ba, theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quyết định của Tòa án, miễn là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con theo quy định tại Điều 117 LHNGĐ.

Thời hiệu yêu cầu thi hành án cấp dưỡng theo bản án là bao lâu?

Căn cứ Điều 30 LTHADS, thời hiệu yêu cầu thi hành án đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trong thời hạn này, người được thi hành án có quyền nộp đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật.

Tiền cấp dưỡng được dựa trên căn cứ nào?

Căn cứ khỏan 2 Điều 7 Nghị quyết Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP thì tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.

Nếu các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì sao?

Căn cứ khỏan 3 Điều 7 Nghị quyết Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP thì trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng.

Kết luận

Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn cần được giải quyết trên cơ sở tuân thủ đúng quy định pháp luật, đồng thời đặt quyền và lợi ích tốt nhất của con lên hàng đầu. Việc lựa chọn đúng cơ chế giải quyết, xác định rõ thẩm quyền, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, chứng cứ và nắm vững các quy định về thời hiệu, nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ giúp bảo đảm việc cấp dưỡng được thực hiện đầy đủ và hiệu quả, qua đó bảo vệ quyền lợi chính đáng của con sau ly hôn. Để được hỗ trợ pháp lý vui lòng liên hệ Chuyên tư vấn luật qua hotline: 1900636387.

4.7 (20 bình chọn)

Bài viết được Chuyên Tư Vấn Luật
Chuyên Tư Vấn Luật

Tác giả: Luật sư tư vấn

Lĩnh vực tư vấn: Tư vấn giải đáp tất cả các lĩnh vực pháp luật, Tố tụng giải quyết các tranh chấp, Cung cấp dịch vụ luật sư, dịch vụ pháp lý trên Toàn Quốc

Trình độ đào tạo: Đại Học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 12

Tổng số bài viết: 134 bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *