Xử lý hình sự hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn dự án đang trở thành vấn đề phức tạp khi nhiều doanh nghiệp lạm dụng tín nhiệm hoặc gian dối thông tin để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thực tiễn cho thấy các thủ đoạn huy động vốn trái pháp luật ngày càng tinh vi từ hợp đồng hợp tác đầu tư giả tạo đến mô hình đa cấp biến tướng. Chuyên tư vấn luật sẽ phân tích chi tiết cấu thành tội phạm, thủ tục xử lý và ranh giới pháp lý trong hoạt động huy động vốn dự án.

Mục Lục
- Xác định cấu thành hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn
- Thủ tục yêu cầu xử lý hình sự hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn
- Khuyến nghị về ranh giới dân sự – hành chính – hình sự
- Dịch vụ luật sư tư vấn xử lý hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn dự án
- Câu hỏi thường gặp liên quan xử lý hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn dự án
Xác định cấu thành hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn
Trong hoạt động huy động vốn dự án, việc xử lý hình sự các hành vi chiếm đoạt tài sản cần bắt đầu từ việc xác định rõ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật hình sự. Việc này giúp phân loại chính xác hành vi, từ đó áp dụng đúng điều luật và trách nhiệm hình sự của đối tượng.
Dấu hiệu lừa đảo
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (BLHS). Hành vi chiếm đoạt tài sản bị truy cứu TNHS về tội này khi đủ các yếu tố sau:
Về mặt khác thể: Hành vi huy động vốn chiếm đoạt tài sản xâm phạm trực tiếp vào quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Về mặt khách quan: Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Một số hành vi huy động vốn có tính chất lừa đảo như dùng thủ đoạn gian dối, cung cấp thông tin sai lệch, không đúng sự thật để thuyết phục người khác góp vốn, từ đó chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt có thể là chiếm đoạt tiền, vàng, … tài sản khác theo quy định Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015. Tội danh này yêu cầu hậu quả là có tài sản bị chiếm đoạt từ hành vi gian đối huy động vốn. Điểm phân biệt giữa hành vi huy động vốn có dấu hiệu lừa giữa với hành vi khác là người thực hiện đã có ý định chiếm đoạt tài sản từ đầu, trước khi thực hiện huy động vốn.
Về mặt chủ thể: Căn Điều 12, Điều 174 BLHS thì người từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thì thỏa mãn mặt chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về mặt chủ quan: Hành vi huy động vốn chiếm đoạt tài sản phải xuất phát từ lỗi cố ý.
Dấu hiệu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn cũng có thể xem xét truy cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS. Một người bị truy cứu về tội này khi đủ các yếu tố sau:
Mặt khách thể, mặt chủ thể và mặt chủ quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ xác định có dấu hiệu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là xác định thông qua mặt khách quan. Hành vi huy động vốn có dấu hiệu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi:
- Đã nhận được tài sản của người khác thông qua việc huy động vốn sau đó dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc mặc dù đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả theo thỏa thuận.
- Đã nhận được tài sản của người khác thông qua việc huy động vốn sau đó sử dụng tài sản không đúng mục đích, sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản yêu cầu hậu quả là có tài sản bị chiếm đoạt từ hành vi huy động vốn.
Dấu hiệu Sử dụng mạng máy tính/viễn thông để chiếm đoạt
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 290 BLHS. Điều 290 BLHS quy định về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Các yếu tố cấu thành tội danh quy định tại Điều 290 BLHS như sau:
Về mặt khách thể: Hành vi này xâm phạm trật tự an toàn công cộng và trật tự xã hội thông quan việc xâm phạm đến an toàn, hoạt động bình thường của lĩnh vực tin học và các ứng dụng công nghệ, đồng thời xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác.
Về mặt khách quan: Dùng ử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong các hành vi:
- Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
- Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
- Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;
- Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản;
- Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đối với mặt chủ thể và mặt chủ quan thì tội này tương tự như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Nếu hành vi huy động vốn thông qua một trong các hành vi nêu trên và thỏa các yếu tố cấu thành tội phạm về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì có thể bị truy cứu TNHS theo Điều 290 BLHS.
Lưu ý: Nhìn chung, điểm khác biệt giữa các tội chiếm đoạt tài sản nằm ở thời điểm và cách thức thực hiện hành vi gian dối hoặc chiếm đoạt. Nếu hành vi gian dối có trước khi nhận tài sản thì thuộc:
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 BLHS hoặc
- Tội “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo Điều 290 BLHS khi thủ đoạn gian dối được thực hiện qua mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử.
Còn nếu nhận tài sản hợp pháp rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt thì thuộc “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 175 BLHS.
Thủ tục yêu cầu xử lý hình sự hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn
Khi xuất hiện căn cứ cho thấy hành vi huy động vốn có dấu hiệu tội phạm, người bị hại có thể thực hiện các bước tố tụng hình sự để bảo vệ quyền lợi và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.
Gửi đơn tố giác và yêu cầu xử lý hình sự
Khi phát hiện dấu hiệu chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn dự án, nhà đầu tư cần soạn đơn tố giác cụ thể về hành vi vi phạm.
Đơn tố giác phải nêu rõ người bị tố giác, hành vi vi phạm, thời gian, địa điểm và các chứng cứ ban đầu. Nội dung đơn tố giác cần mô tả chi tiết thủ đoạn gian dối, thông tin sai lệch hoặc việc lạm dụng tín nhiệm cụ thể. Việc cung cấp các bằng chứng như hợp đồng, sao kê chuyển tiền, tài liệu quảng cáo sẽ giúp cơ quan tiếp nhận đánh giá tính khả thi của việc khởi tố. Đơn tố giác phải được gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo hiệu quả xử lý.
Thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp đơn tố giác bị trả lại do thiếu căn cứ hoặc chưa đủ dấu hiệu tội phạm. Do đó, việc chuẩn bị hồ sơ tố giác cần sự tư vấn của luật sư chuyên nghiệp để đảm bảo tính pháp lý và đầy đủ. Khiếu nại, tố giác tội phạm huy động vốn cần được thực hiện kịp thời để bảo vệ quyền lợi tối đa.
>> Xem thêm: Tố giác hình sự khi bị lừa đảo chiếm đoạt tiền

Thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết
Theo khoản 1, khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTHS 2015), các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
- Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
- Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
Căn cứ theo khoản 3 Điều 145 BLTTHS 2015, thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
- Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
- Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
- Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.
Thời hạn xác minh tin báo
Theo Điều 147 BLTTHS 2015 quy định thời hạn giải quyết tố giác là 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn. Đối với các vụ việc đặc biệt phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có thể được kéo dài đến không quá 02 tháng.
Nếu hết thời hạn kiểm tra, xác minh mà vụ việc vẫn chưa thể kết thúc, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc có thẩm quyền được phép gia hạn một lần, tối đa 02 tháng. Trước khi thời hạn hiện tại kết thúc ít nhất 05 ngày, Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi văn bản đề nghị gia hạn đến Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Trong thời gian xác minh, cơ quan tiếp nhận có quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, triệu tập người có liên quan để làm việc. Việc xác minh các giao dịch tài chính, dòng tiền và truy tìm tài sản thường mất thời gian do tính phức tạp của thủ đoạn. Cơ quan điều tra có thể phối hợp với ngân hàng, các tổ chức tài chính để thu thập chứng cứ.
Kết thúc thời hạn xác minh, cơ quan có thẩm quyền phải có quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố. Trường hợp không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự, người tố giác có quyền khiếu nại quyết định này theo quy định pháp luật.
Quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can
Quyết định khởi tố vụ án
Căn cứ Điều 143 BLTTHS 2015 thì cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền quy định tại 153 BLTTHS 2015 ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định Điều 154 BLTTHS 2015. Nếu vụ việc chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn thuộc một trong các trường hợp tại Điều 157 BLTTHS thì không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:
- Không có sự việc phạm tội;
- Hành vi không cấu thành tội phạm;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Tội phạm đã được đại xá;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
Quyết định khởi tố bị can
Căn cứ khoản 1 Điều 179 BLTTHS 2015 thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.
Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can. Quy trình này được quy định tại Điều 179 BLTTHS 2015.
Giai đoạn điều tra
Trong giai đoạn điều tra vụ án chiếm đoạt tài sản, cơ quan điều tra có thể thực hiện các hoạt động tố tụng như:
- Khởi tố và hỏi cung bị can.
- Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng.
- Khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật.
- Định giá tài sản.
Tùy vào loại tội phạm mà thời hạn điều tra vụ án theo quy định Điều 172 BLTTHS 2015. Khi kết thúc điều tra, căn cứ khoản 2 Điều 232 BLTTHS 2015 cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải thực hiện quy định khoản 4 Điều 232 BLTTHS 2015:
- Giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền;
- Giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can;
- Gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Giai đoạn truy tố
Khi đủ căn cứ, Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng theo quy định Điều 243 BLTTHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2025.
Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định:
- Truy tố bị can trước Tòa án;
- Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
- Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.
Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Sau khi ban hành bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ và cáo trạng cho Tòa án theo Điều 244 BLTTHS 2015. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án. Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày. Trường hợp vụ án có bị can bị tạm giam thì trước khi hết thời hạn tạm giam 07 ngày thì Viện kiểm sát thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định việc tạm giam bị can khi nhận hồ sơ vụ án.
Giai đoạn xét xử
Khi Viện kiểm sát giao bản cáo trạng, hồ sơ vụ án và vật chứng kèm theo (nếu có), Tòa án phải kiểm tra và xử lý theo Điều 276 BLTTHS 2015. Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng thì Tòa án phải thụ lý vụ án.
Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định theo Điều 277 BLTTHS 2015:
- Đưa vụ án ra xét xử;
- Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
- Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng:
- Không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng.
- Không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.
Khuyến nghị về ranh giới dân sự – hành chính – hình sự
Khi đánh giá hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn dự án, cần xác định rõ ranh giới giữa quan hệ dân sự, vi phạm hành chính và trách nhiệm hình sự để tránh áp dụng sai chế tài.
Trường hợp dự án có đầy đủ tính pháp lý, việc huy động vốn hợp lệ nhưng quá trình triển khai chậm tiến độ, phát sinh thua lỗ, hoặc chủ đầu tư chưa thể bàn giao đúng hạn nhưng vẫn thể hiện thiện chí hợp tác, không bỏ trốn, không gian dối thì tranh chấp thường được xác định là tranh chấp dân sự. Đây là nghĩa vụ tài chính chưa được thực hiện đúng, không cấu thành chiếm đoạt.
Ngược lại, nếu dự án chưa đáp ứng điều kiện pháp lý để huy động vốn theo luật nhưng chủ đầu tư vẫn thực hiện việc kêu gọi góp vốn và không có dấu hiệu lừa dối, không có hành vi sử dụng tiền nhằm chiếm đoạt thì hành vi này chủ yếu bị xử lý theo hướng vi phạm hành chính. Chủ đầu tư có thể bị phạt, buộc khắc phục hậu quả nhưng chưa đủ căn cứ cấu thành tội phạm.
Trường hợp nghiêm trọng hơn, khi dự án không đủ điều kiện huy động vốn nhưng chủ đầu tư vẫn kêu gọi đầu tư, đồng thời có hành vi sử dụng vốn sai mục đích, không triển khai dự án, hoặc đưa ra thông tin gian dối để tạo lòng tin nhằm chiếm đoạt tài sản của nhà đầu tư, và có chứng cứ chứng minh yếu tố gian dối ngay từ đầu, thì hành vi này bị xem xét xử lý hình sự theo tội danh chiếm đoạt tài sản như đã phân tích ở mục trên. Đây là ranh giới quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý đúng bản chất vụ việc.
Từ góc độ luật sư, khuyến nghị quan trọng là nhà đầu tư cần rà soát tính pháp lý của dự án ngay từ đầu, thu thập tài liệu chứng minh giao dịch và chủ động tham vấn chuyên môn để sớm nhận diện dấu hiệu rủi ro, tránh để tranh chấp dân sự bị đẩy thành trách nhiệm hình sự.
Ranh giới trách nhiệm pháp lý trong huy động vốn
Các chứng cứ khuyến nghị cần xác minh, thu thập
Việc xác minh và thu thập chứng cứ có ý nghĩa then chốt trong việc làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động huy động vốn, đồng thời là căn cứ quan trọng để phân định chính xác ranh giới giữa trách nhiệm dân sự, hành chính và hình sự.
Nhóm chứng cứ cơ bản cần được ưu tiên thu thập
- Các tài liệu, giấy tờ thể hiện quan hệ giao dịch giữa các bên như hợp đồng, phiếu thu, thỏa thuận giữ chỗ, đặt cọc, hợp tác đầu tư;
- Sao kê chuyển tiền qua ngân hàng;
- Các tài liệu liên quan đến hoạt động quảng cáo, truyền thông như: hình ảnh, video, bài đăng trên các nền tảng mạng xã hội
- Bản sao các tài liệu công bố thông tin về dự án và văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác nhận dự án đủ hoặc chưa đủ điều kiện bán (nếu có).
Nhóm chứng cứ về hành vi gian dối
- Giấy tờ pháp lý có dấu hiệu bị giả mạo hoặc chỉnh sửa;
- Các nội dung cam kết, hứa hẹn về bảo lãnh ngân hàng nhưng thực tế không tồn tại hoặc không đúng;
- việc ký kết hợp đồng thông qua sàn giao dịch nhưng không đúng thẩm quyền hoặc ký thay trái phép,
- Thu tiền vượt mức cho phép (5% giá trị hợp đồng) hoặc thu tiền trước thời điểm dự án đủ điều kiện huy động vốn theo quy định pháp luật.
Nhóm chứng cứ về tình trạng sử dụng tiền
Đây là nhóm chứng cứ trọng yếu nhằm xác định việc chủ đầu tư hoặc đơn vị huy động vốn có sử dụng tiền đúng cam kết hay có dấu hiệu chiếm dụng. Các tài liệu cần thu thập bao gồm:
Tài liệu chứng minh việc sử dụng vốn sai mục đích:
- Chứng từ thể hiện tiền không được đưa vào dự án theo thỏa thuận ban đầu.
- Hồ sơ cho thấy vốn bị chuyển sang dự án khác chưa đủ điều kiện pháp lý.
- Sao kê tài khoản thể hiện giao dịch rút tiền mặt hoặc chuyển khoản phục vụ mục đích cá nhân.
- Tài liệu nội bộ (nếu có) thể hiện việc điều chuyển nguồn tiền không đúng quy chế tài chính.
Tài liệu về dấu hiệu thất thoát hoặc chiếm dụng vốn
- Báo cáo tài chính không minh bạch, không đối chiếu được với dòng tiền thực tế.
- Văn bản yêu cầu giải trình dòng tiền nhưng không được phản hồi hoặc phản hồi không hợp lý.
- Sao kê giao dịch bất thường: rút tiền dày đặc, chuyển khoản không rõ mục đích, chia nhỏ giao dịch.
- Tài liệu phát hiện hạch toán sai lệch để che giấu dòng tiền.
Tài liệu phản ánh hành vi trốn tránh nghĩa vụ
- Biên bản làm việc thể hiện việc né tránh, không hợp tác với khách hàng hoặc cơ quan có thẩm quyền.
- Tài liệu ghi nhận việc bỏ trốn, thay đổi nơi cư trú, không liên lạc được.
- Văn bản yêu cầu hoàn trả tiền nhưng không thực hiện hoặc kéo dài bất hợp lý
Các chứng cứ nêu trên là căn cứ quan trọng để đánh giá dấu hiệu phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 175 BLHS 2015.
Dịch vụ luật sư tư vấn xử lý hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn dự án
Chuyên tư vấn luật cung cấp dịch vụ pháp lý về xử lý hình sự hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn dự án bao gồm:
- Tư vấn xác định tội danh và cấu thành tội phạm;
- Chuẩn bị hồ sơ tố giác với đầy đủ căn cứ pháp lý, sắp xếp chứng cứ theo trình tự logic và nộp đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền;
- Tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc người đại diện theo ủy quyền để giải quyết vấn đề dân sự;
- Hướng dẫn thu thập chứng cứ hợp pháp, công chứng tài liệu quan trọng và phối hợp với cơ quan điều tra trong việc xác minh sự việc;
- Giải thích rõ quyền của người bị hại, nghĩa vụ trong quá trình tố tụng và các biện pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp;
- Tham gia thương lượng về nội dung dân sự với bên vi phạm để tìm phương án giải quyết;
- Tính toán mức thiệt hại cụ thể, lập đơn yêu cầu bồi thường và theo dõi quá trình thi hành án;
- Hướng dẫn thủ tục yêu cầu phong tỏa tài sản của bị can để đảm bảo việc bồi thường thiệt hại;
- Theo dõi tiến độ giải quyết vụ việc vụ án và đề xuất hành động pháp lý cần thiết;
- Tư vấn thủ tục kháng cáo, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm bản án hình sự.
>> Xem thêm: Dịch vụ luật sư trọn gói trong vụ án hình sự

Câu hỏi thường gặp liên quan xử lý hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn dự án
Bên góp vốn có thể nhờ luật sư tham gia từ giai đoạn tố giác không?
Luật sư có thể hỗ trợ soạn đơn tố giác, thu thập chứng cứ, hướng dẫn hồ sơ pháp lý, tham gia bảo vệ quyền lợi trong quá trình tố tụng. Trong trường hợp bên góp vốn là bị hại hoặc đương sự trong vụ án thì có quyền nhờ luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình theo Điều 62, 63, 64 và 65 BLTTHS 2015.
Bên góp vốn là bị hại có thể yêu cầu bồi thường dân sự trong vụ án hình sự không?
Căn cứ Điều 30 BLTTHS 2015 thì bị hại có quyền yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn có thể bị truy cứu về tội gì?
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn có thể bị truy cứu về tôi:
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS.
- Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS.
- Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 BLHS.
Tùy vào tính chất, diễn biến hành vi cụ thể mà việc chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng.
Xử lý hình sự hành vi chiếm đoạt tài sản trong huy động vốn dự án đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật hình sự và kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực bất động sản. Người tham gia cần được tư vấn chuyên nghiệp để xác định đúng tội danh, chuẩn bị chứng cứ hợp lệ và thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Chuyên tư vấn luật cam kết đồng hành cùng người yêu cầu trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp và đòi lại tài sản bị chiếm đoạt. Để được hỗ trợ vui lòng liên hệ hotline 1900636387.


























