Trách nhiệm pháp lý khi bị khởi tố oan sai là vấn đề pháp lý phức tạp liên quan trực tiếp đến quyền con người và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Theo quy định pháp luật hiện hành, khi cơ quan tiến hành tố tụng ban hành quyết định khởi tố thiếu căn cứ, gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì phải chịu chế tài xử lý nghiêm minh. Bài viết sau đây, Chuyên Tư Vấn Luật sẽ phân tích chi tiết các quy định về căn cứ xác định oan sai, cơ chế bồi thường thiệt hại và trình tự khôi phục danh dự cho người bị oan.

Mục Lục
- Tổng quan về khởi tố oan sai
- Trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị khởi tố oan
- Trách nhiệm xin lỗi, cải chính công khai
- Trách nhiệm pháp lý của người tiến hành tố tụng gây oan sai
- Quyền của người bị khởi tố oan
- Một số lưu ý thực tiễn
- Dịch vụ luật sư tư vấn, đại diện yêu cầu bồi thường nhà nước trong tố tụng hình sự
- Câu hỏi thường gặp (FAQs) về trách nhiệm pháp lý khi bị khởi tố oan sai
- Điều kiện để được xác định là bị khởi tố oan sai là gì?
- Mức bồi thường oan sai được tính như thế nào?
- Cơ quan nào có trách nhiệm xin lỗi và bồi thường cho tôi?
- Người gây ra oan sai cho tôi có bị đi tù không?
- Thời hiệu yêu cầu bồi thường oan sai là bao lâu?
- Tôi có được xin lỗi công khai không?
- Nếu người bị oan đã mất thì người thân có được nhận bồi thường không?
- Kết luận
Tổng quan về khởi tố oan sai
Khởi tố oan sai là tình trạng một cá nhân hoặc pháp nhân bị cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố hình sự khi thực tế không có hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Đây là một dạng sai lầm nghiêm trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, xâm phạm trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân và làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Khởi tố oan sai là gì ?
Khởi tố oan sai là trường hợp một cá nhân bị khởi tố bị can, truy tố hoặc xét xử trong hoạt động tố tụng hình sự nhưng sau đó được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, tuyên không phạm tội hoặc hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đây là thiệt hại phát sinh từ hoạt động tố tụng hình sự, tạo ra trách nhiệm pháp lý của Nhà nước. Hiến pháp 2013 đặt nền tảng hiến định cho vấn đề này tại Điều 31 khoản .
Theo quy định tại Điều 18 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, khởi tố oan sai phát sinh trong các trường hợp sau: hành vi của cá nhân không cấu thành tội phạm; cá nhân đó không thực hiện hành vi phạm tội; hoặc đã hết thời hiệu xử lý nhưng việc khởi tố trước đó là trái pháp luật. Theo khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”
Phân biệt khởi tố oan sai với khởi tố đúng nhưng không bị truy cứu
Khởi tố oan sai xảy ra khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố mặc dù không có dấu hiệu tội phạm, không có sự việc phạm tội hoặc chứng cứ buộc tội không khách quan. Điều này dẫn đến việc người bị khởi tố sau đó được xác định không phạm tội (qua quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc bản án, quyết định của tòa án tuyên không phạm tội). Hậu quả xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị khởi tố. Trường hợp này thường được coi là vi phạm tố tụng, có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý đối với người tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Hình sự về các tội danh xâm phạm hoạt động tư pháp.
Khởi tố đúng nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là khi quyết định khởi tố ban đầu là phù hợp với hồ sơ, tài liệu thu thập được tại thời điểm đó, cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để tin rằng có dấu hiệu tội phạm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra hoặc xử lý, cơ quan tố tụng đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án vì không đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội hoặc vì hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. Trong những trường hợp này, việc đình chỉ không đồng nghĩa với việc xác định oan sai, mà là sự chấm dứt hoạt động tố tụng do không đủ căn cứ chứng minh hay do thời hiệu đã hết; người bị khởi tố không bị coi là phạm tội theo pháp luật.
Cụ thể, theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, có các căn cứ dẫn đến không được khởi tố vụ án hình sự, bao gồm không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và các trường hợp khác theo quy định. Đây là những căn cứ định danh cho việc không khởi tố hoặc đình chỉ xử lý đối với một vụ việc đã được khởi tố trước đó nếu phát hiện có căn cứ thuộc các nhóm này khi điều tra tiếp tục.
Ngoài ra, theo Điều 230 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, cơ quan điều tra có thể ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự khi thuộc một trong các căn cứ của Điều 155 và Điều 157 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Trong đó có căn cứ không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm, và những trường hợp khác phù hợp với quy định pháp luật tố tụng. Quyết định đình chỉ phải ghi rõ lý do, căn cứ và các nội dung liên quan.
Trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị khởi tố oan
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, quyền con người, quyền công dân được bảo đảm và tôn trọng trong hoạt động tố tụng. Cụ thể, khoản 5 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định rằng: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.” Quy định này thể hiện nguyên tắc Nhà nước phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi bị xâm phạm trong hoạt động tố tụng, trong đó có trường hợp khởi tố sai trái.
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cụ thể hóa trách nhiệm này. Tại Điều 1, Điều 2 và Điều 18 Luật quy định rõ Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Trong đó đối với hoạt động tố tụng hình sự, Nhà nước bồi thường khi có một số căn cứ rõ ràng:
- Người bị khởi tố, tạm giam… mà sau đó cơ quan có thẩm quyền quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định,
- Xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm, hoặc
- Hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
Những trường hợp này tương ứng với người bị khởi tố sai trái, dẫn đến thiệt hại về vật chất, tinh thần và danh dự. Cụ thể, theo Điều 18 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
- Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ và người đó không vi phạm pháp luật;
- Người bị bắt, tạm giữ… được quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định vì họ không phạm tội;
- Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định xác định không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được hành vi phạm tội;
- Và các trường hợp tương tự khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định.
Như vậy, khi có quyết định đình chỉ điều tra do không phạm tội, có một bản án tuyên vô tội hoặc quyết định hủy bản án đã có hiệu lực do oan sai, người bị khởi tố oan được Nhà nước bồi thường đầy đủ thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định nêu trên.
Các khoản bồi thường
Căn cứ Điều 2 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, đối tượng được bồi thường là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Các khoản bồi thường thiệt hại về vật chất
Nhà nước phải bồi thường các thiệt hại vật chất thực tế đã phát sinh do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Trong đó bao gồm, nhưng không giới hạn ở các khoản sau:
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của người bị khởi tố oan trong thời gian bị khởi tố sai dẫn đến không thể làm việc hoặc bị gián đoạn thu nhập.
- Tài sản bị kê biên, tạm giữ, tịch thu trái pháp luật, nếu các biện pháp tạm giữ, tịch thu, kê biên tài sản trong quá trình khởi tố oan là trái pháp luật và gây thiệt hại vật chất cho người bị khởi tố.
- Chi phí đi lại, lưu trú để kêu oan, gồm các chi phí hợp lý khác phát sinh thực tế trong quá trình người bị thiệt hại đi lại, lưu trú, nộp đơn khiếu nại, tố cáo, thuê người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
- Chi phí khắc phục hậu quả, gồm các khoản chi phí xác đáng khác phục vụ cho việc khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra, nếu có cơ sở chứng minh thiệt hại thực tế.
- Các khoản thiệt hại vật chất được xác định theo quy định chi tiết tại Điều 22, 23, 24, 25, 26 và 28 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, với nguyên tắc tính toán thiệt hại thực tế theo thời điểm và căn cứ phù hợp.
Thiệt hại tinh thần
Căn cứ Điều 27 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, mức bồi thường về tinh thần được tính dựa trên mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, tùy theo hoàn cảnh và thời gian bị oan:
- Người bị khởi tố oan bị bắt, tạm giữ, tạm giam sẽ được bồi thường tinh thần theo số ngày bị áp dụng biện pháp ngăn chặn hình sự, tính theo số ngày lương cơ sở tương ứng.
- Người bị khởi tố oan không bị bắt, tạm giữ, tạm giam nhưng bị điều tra hoặc chịu biện pháp ngăn chặn khác cũng có mức bồi thường tinh thần xác định theo số ngày bị ảnh hưởng, tính theo ngày lương cơ sở.
- Các trường hợp khác liên quan đến thiệt hại tinh thần do bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự (như bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị cải tạo không giam giữ, hoặc thi hành án tù oan trước khi có quyết định vô tội…) được quy định mức cụ thể theo số ngày lương cơ sở tương ứng với thời gian bị oan.
- Mức bồi thường tinh thần theo lương cơ sở thể hiện việc nhà nước định lượng thiệt hại tinh thần trong hoạt động tố tụng hình sự nhằm đảm bảo bù đắp phần nào tổn thất tinh thần, nhân phẩm và danh dự mà người bị khởi tố oan phải chịu trong thời gian bị oan sai..

Trách nhiệm xin lỗi, cải chính công khai
Theo Điều 56, Điều 57, Điều 58 và Điều 59 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, khi có cơ sở pháp lý để phục hồi danh dự cho người bị oan sai trong tố tụng hình sự, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải tổ chức việc xin lỗi và cải chính công khai theo những hình thức sau:
- Tổ chức xin lỗi công khai:
- Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, phải tổ chức việc trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai cho người bị oan sai. Quy định này được thực hiện trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự, theo quy định tại Điều 58 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.
- Buổi xin lỗi công khai có thể được tổ chức tại nơi cư trú của người bị oan sai (nếu là cá nhân) hoặc tại trụ sở của người bị oan (nếu là tổ chức), với sự tham gia của đại diện lãnh đạo các cơ quan tiến hành tố tụng và các đơn vị có liên quan.
- Cải chính thông tin tại nơi cư trú, nơi làm việc:
- Cơ quan nhà nước có trách nhiệm đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên các cơ quan báo chí, truyền thông theo quy định tại Điều 59 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017. Nội dung xin lỗi và cải chính phải được đăng trên ít nhất một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương nơi người bị oan sai cư trú trong ba số liên tiếp, và đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan có trách nhiệm (nếu có).
- Sau khi đăng báo, cơ quan thực hiện còn phải gửi các ấn phẩm đã đăng tới địa phương nơi người bị oan cư trú để niêm yết công khai theo quy định.
- Các hình thức khác theo yêu cầu hợp lý của người bị oan:
- Người bị oan sai có quyền yêu cầu việc phục hồi danh dự, trong đó bao gồm các hình thức xin lỗi và cải chính công khai.
- Việc thực hiện phải tuân thủ các điều kiện và thời hạn do Luật quy định, đồng thời có thể linh hoạt áp dụng hình thức phù hợp với tình huống cụ thể, đảm bảo phục hồi danh dự, uy tín và nhân phẩm cho người bị thiệt hại.
Việc cơ quan gây oan sai chủ động thực hiện xin lỗi và cải chính công khai không chỉ là trách nhiệm pháp lý theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà còn thể hiện sự tôn trọng quyền nhân thân, củng cố niềm tin của người dân đối với hoạt động tố tụng và quản lý công quyền.
>>> Xem thêm: Cơ sở xác định mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần
Trách nhiệm pháp lý của người tiến hành tố tụng gây oan sai
Việc Nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho người bị khởi tố oan không đồng nghĩa với việc cá nhân người tiến hành tố tụng có hành vi gây oan sai được miễn trách nhiệm pháp lý. Người tiến hành tố tụng (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và những cán bộ, công chức khác tham gia hoạt động tố tụng) khi có hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn dẫn đến oan sai, ngoài trách nhiệm hình sự, còn phải chịu trách nhiệm kỷ luật hành chính, công vụ theo quy định pháp luật.
Trách nhiệm kỷ luật
Theo Điều 7 đến Điều 12 Nghị định 172/2025/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức. Các nguyên tắc và hình thức xử lý kỷ luật đối với công chức được quy định rõ: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc là những hình thức kỷ luật có thể áp dụng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra.
Cụ thể:
- Khiển trách áp dụng đối với công chức có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả ít nghiêm trọng.
- Cảnh cáo áp dụng đối với công chức tái phạm hoặc có hành vi vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng.
- Cách chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý khi vi phạm một cách nghiêm trọng hoặc tái phạm nhiều lần theo quy định.
- Buộc thôi việc áp dụng đối với công chức gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây dư luận xấu, hoặc vi phạm tới mức không thể tiếp tục đảm nhiệm chức vụ.
Các quy định này thể hiện chế tài kỷ luật hành chính, công vụ nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của hoạt động tố tụng và kỷ cương trong bộ máy nhà nước. Đồng thời, buộc người tiến hành tố tụng phải chịu trách nhiệm pháp lý không chỉ trước pháp luật hình sự (nếu có) mà còn trước các quy định quản lý cán bộ, công chức khi vi phạm.
Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ
Căn cứ tại Điều 64 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, “người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền”. Nghĩa vụ này phát sinh khi người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi cố ý hoặc lỗi nghiêm trọng trong thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án dẫn đến việc Nhà nước phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Việc xác định mức độ hoàn trả được quy định chi tiết tại Điều 65 Luật này, theo đó căn cứ vào mức độ lỗi và hậu quả gây ra, việc hoàn trả có thể là hoàn trả toàn bộ số tiền Nhà nước đã chi trả bồi thường hoặc một phần của số tiền đó. Mức hoàn trả được xác định dựa trên:
- Mức độ lỗi của người thi hành công vụ gây thiệt hại (có lỗi cố ý hay lỗi vô ý);
- Hậu quả thiệt hại đã xảy ra và số tiền Nhà nước đã bồi thường;
- Một số quy định pháp luật chi tiết làm cơ sở tính toán và xác định tỷ lệ hoàn trả. Cụ thể, theo mức độ lỗi và quyết định hoàn trả:
- Người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự phải hoàn trả toàn bộ số tiền Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.
- Người thi hành công vụ có lỗi cố ý nhưng không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có lỗi vô ý gây thiệt hại sẽ hoàn trả một phần số tiền Nhà nước đã bồi thường theo các quy định và hướng dẫn chi tiết của pháp luật.
Việc hoàn trả được thực hiện theo quyết định của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và các quy trình. Thời hạn do pháp luật quy định tại Điều 66 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, trong đó có thẩm quyền thành lập Hội đồng xác định trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả tương ứng mức độ lỗi và tổng số tiền bồi thường đã chi trả.
Như vậy, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ là một biện pháp pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng và trách nhiệm cá nhân đối với hành vi gây thiệt hại trong hoạt động công vụ, đồng thời góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và thúc đẩy nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nhà nước, tố tụng và thi hành án.
Trách nhiệm hình sự của người tiến hành tố tụng trong trường hợp gây oan sai nghiêm trọng
Trong trường hợp hành vi của người tiến hành tố tụng gây oan sai có dấu hiệu cấu thành tội phạm, thì ngoài trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm hoàn trả, cá nhân vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đây là trách nhiệm pháp lý độc lập, không phụ thuộc vào việc Nhà nước đã hoặc chưa thực hiện bồi thường cho người bị oan.
Cụ thể, tùy theo tính chất, mức độ và hành vi vi phạm, người tiến hành tố tụng có thể bị truy cứu về một hoặc nhiều tội danh sau đây:
- Tội ra quyết định trái pháp luật theo Điều 371 Bộ luật Hình sự 2015: người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng mà vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, cố ý ra quyết định trái pháp luật gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, với khung hình phạt tăng nặng nếu gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
- Tội dùng nhục hình theo Điều 373 Bộ luật Hình sự 2015: người tiến hành tố tụng dùng bạo lực, nhục hình hoặc các thủ đoạn tàn bạo khác đối với người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo… trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, nhằm buộc khai báo hoặc vì mục đích khác, gây tổn hại về sức khỏe, tinh thần hoặc dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
- Tội bức cung theo Điều 374 Bộ luật Hình sự 2015: người tiến hành tố tụng dùng thủ đoạn trái pháp luật như đe dọa, uy hiếp tinh thần, dụ dỗ, ép buộc người bị hỏi cung phải khai báo trái với sự thật, dẫn đến việc làm sai lệch bản chất vụ án hoặc gây oan sai.
- Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án theo Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015: người tiến hành tố tụng sửa chữa, thêm, bớt, hủy hoặc làm giả tài liệu trong hồ sơ vụ án, làm sai lệch nội dung vụ án, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, trong đó có trường hợp dẫn đến việc kết án oan người không có tội.
- Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015: người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tố tụng do thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao, gây hậu quả nghiêm trọng như làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
Quyền của người bị khởi tố oan
Cụ thể, người bị oan có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần theo quy định tại Điều 27 và Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, bao gồm thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, chi phí hợp lý để khắc phục hậu quả và khoản bù đắp tổn thất về tinh thần.
Bên cạnh đó, người bị khởi tố oan có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai, theo quy định tại khoản 1 Điều 58 và Điều 59 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017. Việc xin lỗi, cải chính công khai phải được thực hiện bằng hình thức phù hợp, bảo đảm đúng phạm vi, địa điểm và nội dung theo yêu cầu hợp lý của người bị thiệt hại.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết bồi thường, người bị oan có quyền tự mình hoặc thông qua luật sư tham gia thương lượng về mức bồi thường và hình thức bồi thường, căn cứ khoản 2 Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.
Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường hoặc cơ quan có trách nhiệm bồi thường chậm trễ, né tránh, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, người bị oan có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, Điều 30 và Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015.
>> Xem thêm: Thủ tục bồi thường thiệt hại đối với oan sai trong vụ án hình sự
Một số lưu ý thực tiễn
Trên thực tế, không phải mọi trường hợp vụ án bị đình chỉ đều đương nhiên được xác định là khởi tố, truy tố, xét xử oan. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, chỉ những trường hợp việc gây thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng thì mới làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Do đó, trước khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại cần xác định rõ căn cứ pháp lý chứng minh hành vi tố tụng là trái pháp luật, thường được thể hiện thông qua bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng xác định người bị khởi tố là không thực hiện hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Về thời hiệu yêu cầu bồi thường: Theo khoản 1 Điều 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được văn bản làm căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Việc nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường sau thời hạn này có thể dẫn đến việc bị từ chối giải quyết, trừ các trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật.
Từ góc độ thực tiễn giải quyết bồi thường, người bị khởi tố oan nên chủ động thu thập và lưu giữ đầy đủ các quyết định tố tụng liên quan như quyết định khởi tố, quyết định tạm giữ, tạm giam, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc bản án tuyên không phạm tội. Đồng thời chuẩn bị đầy đủ chứng cứ chứng minh thiệt hại theo quy định tại Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, bao gồm tài liệu chứng minh thu nhập bị mất, chi phí hợp lý để khắc phục hậu quả và căn cứ xác định tổn thất về tinh thần.
Ngoài ra, để bảo đảm việc yêu cầu bồi thường được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và bảo vệ hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp, người bị thiệt hại nên có luật sư tham gia ngay từ giai đoạn yêu cầu bồi thường. Việc có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp không chỉ giúp đánh giá chính xác căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường mà còn hỗ trợ quá trình thương lượng, khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính nếu phát sinh tranh chấp, phù hợp với tinh thần bảo đảm quyền tiếp cận công lý theo Điều 16 và Điều 30 Hiến pháp năm 2013.
Dịch vụ luật sư tư vấn, đại diện yêu cầu bồi thường nhà nước trong tố tụng hình sự
Yêu cầu bồi thường nhà nước trong tố tụng hình sự là một thủ tục pháp lý chuyên sâu, đòi hỏi việc đánh giá toàn diện hồ sơ tố tụng, xác định chính xác căn cứ pháp lý và tính toán đầy đủ các khoản thiệt hại theo tiêu chuẩn pháp định. Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực bồi thường nhà nước trong tố tụng hình sự thông qua các hạng mục công việc sau:
- Phân tích hồ sơ tố tụng và xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
- Phân tích toàn bộ hồ sơ tố tụng hình sự để xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ làm phát sinh trách nhiệm bồi
- Đánh giá mức độ lỗi của người thi hành công vụ và làm rõ mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại.
- Tư vấn khả năng yêu cầu bồi thường và định hướng chiến lược pháp lý phù hợp với từng vụ việc cụ thể.
- Xác định cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường
- Xác định chính xác cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường căn cứ vào giai đoạn tố tụng đã gây ra oan, sai.
- Tư vấn phương án nộp hồ sơ đúng cơ quan có thẩm quyền nhằm tránh kéo dài thời gian giải quyết.
- Thu thập và xây dựng hồ sơ chứng cứ chứng minh thiệt hại
- Lập hồ sơ chứng cứ gồm hóa đơn, chứng từ tài chính, giấy tờ y tế, tài liệu chứng minh thu nhập bị mất hoặc giảm sút và các tài liệu liên quan khác.
- Đánh giá giá trị chứng cứ nhằm bảo đảm tính hợp pháp, hợp lệ và khả năng được chấp nhận trong quá trình giải quyết bồi thường.
- Tính toán mức bồi thường theo tiêu chuẩn pháp định
- Tính toán chi tiết các khoản bồi thường thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần theo từng trường hợp cụ.
- Xác định chính xác số ngày lương cơ sở tương ứng với từng loại biện pháp tố tụng đã được áp dụng (bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt…).
- Tư vấn mức yêu cầu bồi thường hợp lý, phù hợp với thiệt hại thực tế và khung pháp luật hiện hành.
- Soạn thảo và nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường
- Soạn thảo đơn yêu cầu bồi thường và toàn bộ hồ sơ pháp lý kèm theo theo đúng trình tự, thủ tục quy định.
- Đại diện Quý khách nộp hồ sơ, theo dõi việc thụ lý và xử lý các yêu cầu bổ sung tài liệu của cơ quan giải quyết bồi thường.
- Đại diện thương lượng và tham gia giải quyết bồi thường
- Tham gia quá trình xác minh thiệt hại và đại diện Quý khách thương lượng mức bồi thường với cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường trong thời hạn pháp luật quy định.
- Soạn thảo ý kiến pháp lý, lập luận bảo vệ quyền lợi của Quý khách trong từng giai đoạn giải quyết.

Câu hỏi thường gặp (FAQs) về trách nhiệm pháp lý khi bị khởi tố oan sai
Việc bị khởi tố oan sai không chỉ gây tổn hại về danh dự, nhân phẩm mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người bị oan. Dưới đây là giải đáp cho các câu hỏi thường gặp nhất giúp Quý khách nắm rõ quyền lợi của mình.
Điều kiện để được xác định là bị khởi tố oan sai là gì?
Quý khách được coi là bị khởi tố oan sai khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của bạn không cấu thành tội phạm hoặc bạn không thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể, theo Điều 18 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, quyền yêu cầu bồi thường chỉ phát sinh khi có một trong các văn bản sau: Quyết định đình chỉ điều tra vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm; Bản án tuyên vô tội đã có hiệu lực pháp luật; hoặc Quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (như tạm giam) vì không có căn cứ. Nếu chỉ mới có quyết định khởi tố mà chưa có kết luận cuối cùng minh oan, bạn chưa đủ điều kiện để yêu cầu bồi thường.
Mức bồi thường oan sai được tính như thế nào?
Mức bồi thường bao gồm thiệt hại về vật chất (thu nhập thực tế bị mất, tài sản bị xâm phạm, chi phí kêu oan…) và thiệt hại về tinh thần. Đặc biệt, thiệt hại về tinh thần trong trường hợp bị khởi tố, tạm giam, tù oan được tính theo công thức: Số ngày bị oan x 05 ngày lương cơ sở (theo khoản 3 Điều 27 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017). Ngoài ra, nếu sức khỏe bị giảm sút, bạn còn được bồi thường chi phí khám chữa bệnh và tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.
Cơ quan nào có trách nhiệm xin lỗi và bồi thường cho tôi?
Cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định gây thiệt hại sau cùng hoặc có hành vi trái pháp luật dẫn đến việc oan sai. Theo quy định tại Điều 34, 35, 36 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017:
- Nếu vụ án dừng ở giai đoạn điều tra (đình chỉ điều tra): Cơ quan Điều tra bồi thường.
- Nếu vụ án dừng ở giai đoạn truy tố (Viện kiểm sát đình chỉ hoặc Tòa tuyên vô tội): Viện kiểm sát bồi thường.
- Nếu Tòa án đã xét xử và bản án bị hủy để tuyên vô tội: Tòa án bồi thường. Việc xác định đúng cơ quan là rất quan trọng để nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường đúng địa chỉ.
Người gây ra oan sai cho tôi có bị đi tù không?
Có thể. Nếu hành vi của người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) có dấu hiệu cấu thành tội phạm như Làm sai lệch hồ sơ vụ án (Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017), Dùng nhục hình (Điều 373 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017) hoặc Bức cung (Điều 374 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017). Ngoài trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cá nhân người gây oan sai còn phải chịu trách nhiệm kỷ luật (cách chức, buộc thôi việc), trách nhiệm hoàn trả tiền bồi thường cho Nhà nước, và trách nhiệm hình sự nếu hành vi đó thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp.
Thời hiệu yêu cầu bồi thường oan sai là bao lâu?
Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường (như quyết định đình chỉ, bản án vô tội). Căn cứ Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, nếu quá thời hạn này mà không có lý do chính đáng (trở ngại khách quan, bất khả kháng), Quý khách sẽ mất quyền yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, quyền yêu cầu phục hồi danh dự (xin lỗi công khai) không áp dụng thời hiệu, tức là Quý khách có thể yêu cầu bất cứ lúc nào.
Tôi có được xin lỗi công khai không?
Có. Đây là trách nhiệm bắt buộc của Nhà nước nhằm phục hồi danh dự cho người bị oan. Theo Điều 56 đến Điều 59 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, cơ quan gây oan sai phải tổ chức buổi trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của Quý khách (có sự tham gia của chính quyền, đoàn thể). Ngoài ra, họ còn phải đăng báo xin lỗi trên 01 tờ báo trung ương và 01 tờ báo địa phương trong 03 số liên tiếp.
Nếu người bị oan đã mất thì người thân có được nhận bồi thường không?
Có. Người thừa kế của người bị oan có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự cho người đã khuất. Khoản 1 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 quy định người yêu cầu bồi thường bao gồm cả người thừa kế. Khoản tiền bồi thường sẽ trở thành di sản thừa kế và được chia theo pháp luật. Việc xin lỗi công khai vẫn phải được thực hiện để trả lại sự trong sạch cho tên tuổi của người đã mất.
Kết luận
Việc xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi xảy ra oan sai là quyền lợi chính đáng để khôi phục danh dự cho công dân. Người bị oan cần chủ động yêu cầu cơ quan tố tụng tổ chức xin lỗi công khai và đền bù thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, quy trình chứng minh tổn thất theo luật định thường vấp phải nhiều rào cản về thủ tục hành chính. Sự tham gia của luật sư là yếu tố then chốt để đảm bảo mức bồi thường được giải quyết thỏa đáng nhất. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ pháp lý toàn diện qua Dịch vụ luật sư hình sự và Dịch vụ luật sư tham gia tố tụng. Hãy liên hệ ngay với Chuyên Tư Vấn Luật qua hotline 1900636387 để được tư vấn chi tiết.


























