Quyền trả lại, mua lại hàng hóa khi kinh doanh đa cấp là vấn đề pháp lý cần được hiểu rõ. Nghị định 40/2018/NĐ-CP quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của người tham gia và doanh nghiệp trong hoạt động này. Không phải mọi trường hợp người tham gia bán hàng đa cấp đều có thể thực hiện quyền này. Bài viết này của Chuyên tư vấn luật sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Quyền trả lại, mua lại hàng hóa khi kinh doanh đa cấp
Mục Lục
Quy định về hoạt động kinh doanh đa cấp
Hoạt động kinh doanh đa cấp tại Việt Nam được điều chỉnh bởi Luật Cạnh tranh, Nghị định 40/2018/NĐ-CP và Nghị định 18/2023/NĐ-CP.
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 40/2018/NĐ-CP thì kinh doanh theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới.
Điều 4 Nghị định 40/2018/NĐ-CP quy định về đối tượng kinh doanh theo phương thức đa cấp. Theo đó, kinh doanh đa cấp chỉ thực hiện đối vưới hàng hóa. Hàng hóa này không thuộc một trong các loại:
- Hàng hóa là thuốc;
- Thiết bị y tế;
- Các loại thuốc thú y (bao gồm cả thuốc thú y thủy sản);
- Thuốc bảo vệ thực vật;
- Hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn hạn chế sử dụng và cấm sử dụng trong lĩnh vực gia dụng và y tế và các loại hóa chất nguy hiểm;
Đối với các hoạt động bán hàng đa cấp thực hiện trên những đối tượng khác không phải hàng hóa đều bị cấm.
Hình thức tham gia hoạt động bán hàng đa cấp
Để tham gia hoạt động bán hàng đa cấp, cá nhân có thể lựa chọn phương thức sau:
Doanh nghiệp đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp
Doanh nghiệp kinh doanh bán hàng đa cấp phải đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp . Việc đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 7 Nghị định 40/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 và khoản 3 Nghị định 18/2023/NĐ-CP. Cụ thể các điều kiện như sau:
- Là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và chưa từng bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp;
- Có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên;
- Thành viên đối với công ty hợp danh, chủ sở hữu đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, cổ đông đối với công ty cổ phần, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không bao gồm tổ chức hoặc cá nhân từng giữ một trong các chức vụ nêu trên tại doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp và Nghị định này trong thời gian doanh nghiệp đó đang hoạt động bán hàng đa cấp;
- Ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định này;
- Có mẫu hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, quy tắc hoạt động, kế hoạch trả thưởng, chương trình đào tạo cơ bản rõ ràng, minh bạch và phù hợp với quy định của Nghị định này;
- Có hệ thống công nghệ thông tin quản lý mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp, trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin về doanh nghiệp và hoạt động bán hàng đa cấp của doanh nghiệp;
- Có hệ thống thông tin liên lạc để tiếp nhận, giải quyết thắc mắc, khiếu nại của người tham gia bán hàng đa cấp.
- Trong trường hợp tổ chức đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp là doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoặc thành viên hoặc cổ đông, tất cả các nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đó phải có thời gian hoạt động bán hàng đa cấp trong thực tế tối thiểu là 03 năm liên tục ở một nước, vùng lãnh thổ trên thế giới.
Doanh nghiệp đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định
Người tham gia bán hàng đa cấp
Tham gia với tư cách người tham gia bán hàng đa cấp. Cá nhân thực hiện ký Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp bằng văn bản. Để tham gia bán hàng đa cấp người tham gia cần đáp ứng điều kiện tại Điều 28 Nghị định 40/2018/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi khoản 22 Điều 1 Nghị định 18/2023/NĐ-CP. Điều kiện cơ bản:
- Người tham gia bán hàng đa cấp là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
- Người tham gia bán hàng đa cấp phải cư trú tại Việt Nam.
Những đối tượng sau đây không được tham gia bán hàng đa cấp:
- Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, sản xuất, buôn bán hàng cấm, quảng cáo gian dối, lừa dối khách hàng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản, tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp;
- Người nước ngoài không có giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp gắn với doanh nghiệp mà người đó tham gia bán hàng đa cấp, trừ trường hợp được miễn theo quy định của pháp luật
- Người tham gia bán hàng đa cấp đã từng bị xử phạt do vi phạm các quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 5 Nghị định 40/2018/NĐ-CP mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính;
- Cá nhân quy định tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định 40/2018/NĐ-CP;
- Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Quyền trả lại, mua lại hàng hóa của người tham gia bán hàng đa cấp
Theo khoản 1 Điều 47 Nghị định 40/2018/NĐ-CP, người tham gia bán hàng đa cấp có quyền trả lại hàng hóa trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận hàng. Quy định này áp dụng cho cả hàng hóa mua theo chương trình khuyến mại. Đây là quyền lợi quan trọng, bảo vệ người tham gia trước rủi ro tồn đọng hàng.
Khoản 2 Điều 47 Nghị định 40/2018/NĐ-CP quy định về điều kiện hàng hóa:
- Còn nguyên bao bì, tem nhãn;
- Và kèm theo hóa đơn mua hàng.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận yêu cầu hợp lệ, doanh nghiệp có trách nhiệm mua lại hàng hóa. Mức giá mua lại không được thấp hơn 90% giá bán ban đầu.
Doanh nghiệp có quyền khấu trừ tiền hoa hồng, thưởng mà người tham gia đã nhận từ việc mua số hàng bị trả lại. Đồng thời, doanh nghiệp cũng được thu hồi các khoản hoa hồng, thưởng đã chi cho các nhà phân phối cấp trên liên quan đến số hàng bị trả lại.

Mua lại hàng hóa trong kinh doanh đa cấp
Cách giải quyết tranh chấp khi tham gia bán hàng đa cấp
Khi phát sinh tranh chấp trong hoạt động bán hàng đa cấp, các bên có thể lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp.
Trước hết, hai bên nên tiến hành thương lượng, hòa giải trên tinh thần thiện chí. Nhiều doanh nghiệp có bộ phận chăm sóc khách hàng để hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát sinh.
Nếu không đạt được thỏa thuận, các bên có thể yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước can thiệp. Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công Thương) là cơ quan chủ trì quản lý hoạt động bán hàng đa cấp. Cơ quan này có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.
Trường hợp tranh chấp nghiêm trọng, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án. Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp dựa trên các quy định của pháp luật và chứng cứ do các bên cung cấp. Quá trình tố tụng tại Tòa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Dịch vụ luật sư tư vấn chuyên sâu lĩnh vực pháp lý về bán hàng đa cấp
Luật sư của Chuyên tư vấn luật tư vấn và cung cấp các dịch vụ pháp lý sau đây:
- Luật sư hỗ trợ xây dựng hồ sơ đăng ký hoạt động.
- Luật sư hướng dẫn soạn thảo hợp đồng và quy tắc hoạt động.
- Luật sư cũng tư vấn về tuân thủ pháp luật trong quá trình kinh doanh đa cấp.
- Luật sư giúp phân tích các điều khoản hợp đồng, đảm bảo quyền lợi được bảo vệ.
- Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, luật sư sẽ đại diện cho khách hàng trong quá trình thương lượng hoặc tố tụng tại Tòa án.

Tư vấn pháp lý về kinh doanh đa cấp
Tư vấn quyền trả lại, mua lại hàng hóa khi kinh doanh đa cấp là vấn đề pháp lý quan trọng. Quý khách hàng cần được hỗ trợ chuyên sâu, vui lòng liên hệ Chuyên tư vấn luật qua hotline 1900636387. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm sẽ phân tích cụ thể trường hợp của Quý khách, đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong hoạt động kinh doanh đa cấp.


























