ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

22 /072017

ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1. Chủ thể thực hiện hợp đồng

Chủ thể thực hiện hợp đồng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật mới có thể thực hiện hợp đồng.

Thứ nhất, điều kiện về năng lực pháp luật, năng lực hành vi. Điều 117 Bộ luật dân sự 2015: Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Thứ hai, điều kiện được phép thực hiện hành vi mua bán hàng hóa

Đối với chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân (thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài - hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế): Theo Điều 6 Luật thương mại 2005 bao gồm các điều kiện về thương nhân: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.

Các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa và không nhằm mục đích sinh lời, được điều chỉnh bởi Luật thương mại khi các bên chọn Luật thương mại để áp dụng.

2. Định nghĩa các khái niệm trong hợp đồng

Tại sao phải định nghĩa các khái niệm?

Các khái niệm có liên quan đến đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên nhằm làm rõ những thuật ngữ pháp lý, quyền và nghĩa vụ của hai bên để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng.

Hình thức trình bày điều khoản định nghĩa này có thể nằm ở đâu?

Định nghĩa các khái niệm trong hợp đồng dịch vụ có thể nằm ở mục đầu tiên của hợp đồng.

3. Đối tượng hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng này là những hàng hóa thương mại được phép lưu thông trên thị trường, không thuộc danh mục cấm kinh doanh theo quy định tại văn bản hợp nhất 19/VBHN-BTC và Phụ lục I Nghị định 59/2006/NĐ-CP.

Nội dung của điều khoản này phải thể hiện được đặc điểm, tính chất, vị trí của đối tượng hợp đồng. Khoản 2 Điều 3 Luật thương mại quy định: Hàng hóa bao gồm:

- Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

- Những vật gắn liền với đất đai.

Trong hợp đồng mua bán, đối tượng được liệt kê ngay tại điều khoản đầu tiên trong hợp đồng ngay sau phần giới thiệu các chủ thể trong hợp đồng.

4. Giá trị hợp đồng

Dựa trên những điều khoản mà hai bên đã thỏa thuận và ký kết, theo đó bao gồm những chi phí mà bên mua phải có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán để nhận được hàng hóa.

Các nghĩa vụ liên quan đến giá trị hợp đồng (Thuế VAT, chi phí kho bãi, chi phí

lắp đặt…). Có thể bao gồm nhưng không giới hạn ở:

- Thuế giá trị gia tăng.

- Phí mua hàng.

- Phí giao hàng.

- Phí khi bãi.

- Những chi phí khác mà bên bán yêu cầu bên mua thanh toán trong hợp đồng.

Trong điều khoản về giá trị hợp đồng có thể đề cập đến phương thức thanh toán, hình thức thanh toán, giai đoạn thanh toán. Theo đó, bên mua có thể thanh toán tiền hàng cho bên bán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Theo sự thỏa thuận của các bên mà có thể có hai giai đoạn thanh toán: bằng tiền mặt ngay sau khi nhận hàng hoặc chuyển khoản sau khi đồng ý thực hiện hợp đồng và nhận hàng sau đó.

5. Thời điểm chuyển giao quyền và nghĩa vụ

Thời điểm chuyển giao quyền và nghĩa vụ có thể xác định bằng thời điểm giao nhận hàng. Các bên có thể thỏa thuận với nhau về việc giao hàng trong một thời hạn hay tại một thời điểm. Thời điểm giao nhận hàng là một thời điểm cụ thể do các bên thỏa thuận mà khi đến thời điểm đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng. Khi qua thời điểm đó, hợp đồng mua bán đã thỏa thuận mặc nhiên không có hiệu lực. Vì thế, thời điểm bên bán giao hàng cũng là thời điểm bên mua nhận hàng. Theo quy định tại Điều 37 Luật thương mại 2005 về thời hạn giao hàng thì:

- Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng.

- Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.

- Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng.

Nếu bên bán giao hàng trước thời điểm đã thảo thuận thì bên mua có quyền không nhận hàng nếu các bên không có thỏa thuận khác (Điều 38 Luật thương mại 2005). Theo Điều 62 Luật thương mại 2005 thì trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao. Trách nhiệm chịu rủi ro trong quá trình chuyển giao quyền sở hữu thuộc các trường hợp sau (quy định theo các Điều 57, 58, 59, 60 và 61 Luật thương mại 2005):

- Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định: bên vi phạm nghĩa vụ giao – nhận sẽ là bên phải gánh chịu rủi ro.

- Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định: Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên.

- Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển: Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hàng hoá đang được người nhận hàng để giao nắm giữ mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua thuộc một trong các trường hợp sau đây: Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá; Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua.

- Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá đang trên đường vận chuyển: nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá đang trên đường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng. Đối với trường hợp hàng hóa đã được mua bán và đang trong thời gian vận chuyển, do bên bán chưa giao hàng đến được địa điểm xác định mà các bên thỏa thuận, nên bên bán sẽ phải gánh chịu rủi ro.

- Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá (không thuộc các trường hợp nêu trên) được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng

Xác định các chi phí thực hiện chuyển giao bao gồm nhưng không giới hạn ở

- Phí vận chuyển;

- Bảo hiểm hàng hóa;

- Phí bốc, xếp hàng hóa;

- Phí nhận gửi hàng hóa;

6. Quyền và nghĩa vụ của các bên

Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ, do đó quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia. Ngoài những điều khoản do hai bên thỏa thuận thì quyền và nghĩa vụ của các bên còn do Luật thương mại quy định tại Mục 2. Cụ thể như sau:

a. Nghĩa vụ của bên bán

- Giao hàng và chứng từ liên quan đến hàng hóa: Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng (Khoản 1 Điều 34 Luật thương mại 2005).

- Giao hàng đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng.

- Kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng

- Bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa

- Bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa

- Trong trường hợp hàng hóa là đối tượng của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

- Bảo hành hàng hóa

b. Nghĩa vụ của bên mua

- Nhận hàng

- Thanh toán tiền hàng cho bên bán

7. Bất khả kháng

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép (Điều 156 Bộ luật dân sự 2015).

Theo đó, bên vi phạm sẽ được miễn trách nhiệm, không phải chịu các chế tài do hành vi vi phạm của mình gây ra nếu chứng minh được những trở ngại dẫn đến những sự kiện ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của các bên thực hiện, không thể né tránh hoặc khắc phục nó kịp thời (điểm b khoản 1 Điều 294 Luật thương mại 2005).

Các sự kiên bất khả kháng có thể xuất phát từ các nhuyên nhân như:

- Thiên tai (bão, lũ, lốc xoáy, dộng đất, sạc lở,...).

- Nổ, cháy, hủy diệt máy móc, nhà xưởng.

- Cuộc đình công, tẩy chay, chiếm giữ nhà xưởng và cơ sở.

- Chiến tranh, cướp bóc, phá hoại, nội chiến xảy ra bất ngờ...

Khi có sự kiện bất khả kháng ngoài ý muốn, các bên có thể thỏa thuận để kép dài thực hiện hợp đồng và thông báo cho bên kia biết về tình trạng xảy ra (Điều 296 Luật thương mại 2005).

8. Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng

Thứ nhất, bồi thường thiệt hại

Để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về chủ thể nào thì có các căn cứ áp dụng:

- Có hành vi vi phạm hợp đồng;

- Có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra;

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế;

- Có yếu tố lỗi của bên vi phạm.

Về nguyên tắc, bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại vật chất cho bên bị vi phạm. Tuy nhiên cần phải chứng minh yếu tố lỗi của bên vi phạm gây ra thì mới áp dụng.

Thứ hai, chế tài thương mại

Việc vi phạm các nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ) sẽ dẫn đến bên vi phạm phải chịu những chế tài do pháp luật quy định. Ngoài chế tài bồi thường thiệt hại thì có thể có các chế tài thương mại khác mà hai bên chủ thể áp dụng:

- Buộc thực hiện đúng hợp đồng: khi có hành vi vi phạm hợp đồng và có lỗi của bên vi phạm.

- Phạt hợp đồng: do một bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo đúng cam kết thì phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhất định do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận.

- Tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng: một bên tạm thời không thwucj hiện nghĩa vụ, chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hoặc hủy bỏ hiệu lực của hợp đồng đã giao kết. Trường hợp hủy bỏ hợp đồng thì bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.

9. Cơ chế giải quyết tranh chấp

Luật áp dụng giải quyết tranh chấp: Do các chủ thể lựa chọn. Trường hợp nếu các bên đều là thương nhân thì ưu tiên Luật thương mại để áp dụng. Những thỏa thuận khác có thể áp dụng Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp... Các văn bản khác có liên quan. Về cơ quan giải quyết tranh chấp, tranh chấp có thể được đưa ra Tòa án có thẩm quyền hoặc Trọng tài thương mại để giải quyết.

10. Điều khoản chung

Khoản 1 Điều 401 Bộ luật dân sự 2015 : “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Đây là nguyên tắc chung khi giao kết hợp đồng dân sự nói chung. Mặt khác, tùy theo ý chí, sự thỏa thuận giữa các bên ký kết trong hợp đồng mua bán hàng hóa về hiệu lực của hợp đồng thì có thể:

- Hợp đồng có hiệu lực vào một thời điểm sau khi giao kết hoặc sau một thời hạn nhất định mà khi hết thời hạn đó, hợp đồng đương nhiên sẽ không còn hiệu lực.

- Hợp đồng có hiệu lực khi có chứng nhận của cơ quan thứ ba (hợp đồng liên quan đến bất động sản).

Theo thỏa thuận thì hợp đồng có thể được lập thành ít nhất 02 bản, mỗi bên giữ ít nhất 01 bản, các bản hợp đồng này đều có giá trị pháp lý như nhau.

Các điều khoản thỏa thuận riêng biệt phù hợp với quy định pháp luật bao gồm các điều khoản như:

- Địa điểm chuyển giao tài sản: theo quy định tại Điều 35 về địa điểm giao hàng và theo các bên đã thỏa thuận trước khi ký kết hợp đồng mà địa điểm giao nhận có thể là tại nơi có hàng hóa (gắn liền với bất động sản) hoặc địa điểm nơi người bán, người nhận.

- Các trường hợp chấm dứt hợp đồng khi một trong các bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng dẫn đến hợp đồng không thể thực hiện được thì bên còn lại phải đơn phương chấm dứt hợp đồng. Điều này do các bên thỏa thuận.

- Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng: do hai bên thỏa thuận riêng.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.