Trên thực tế hiện nay, việc thu hồi đất là một vấn đề hết sức phức tạp và nan giải. Do đó, cũng không ít những trường hợp, nhà nước phải áp dụng những biện quyền lực nhà nước để thu hồi đất. Tuy nhiên việc cưỡng chế khi chưa hết thời hạn thông báo thu hồi đất liệu có đúng theo quy định của pháp luật hay không?

Hình ảnh Cưỡng chế thu hồi đất khi chưa hết thời hạn thông báo thu hồi đất
Cưỡng chế thu hồi đất khi chưa hết thời hạn thông báo thu hồi đất

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì có 4 trường hợp thu hồi đất

  • Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh;
  • Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;
  • Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;
  • Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

Căn cứ quy định tại Khoản 7 Điều 22 Thông tư 25/2014/TT-BTNMT về quy định giám sát, kiểm tra, nghiệm thu, xác nhận sản phẩm với bản đồ địa chính, Trường hợp trích đo địa chính thửa đất phục vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, đấu giá quyền sử dụng đất và mục đích quản lý đất đai khác thì việc xác nhận mảnh trích đo địa chính được thực hiện như quy định đối với việc xác nhận bản đồ địa chính quy định tại điểm 6.1 khoản 6 Điều này.

Bản đồ địa chính phải được xác nhận bởi đơn vị thi công, đơn vị kiểm tra, Ủy ban nhân dân cấp xã, và được Sở tài nguyên và Môi trường ký duyệt nghiệm thu. Vậy nên, trong trường hợp thực hiện đo đạc chỉnh lý biến động để tiến hành thu hồi và bồi thường mà phát hiện ra hiện trạng phần đất đo đạc được không khớp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì khi thu hồi đất nên thu theo bản đo đạc chỉnh lý biến động.

Thủ tục thu hồi theo quy định của pháp luật

Hình ảnh thủ tục cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của pháp luật
Thủ tục cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của pháp luật

Đầu tiên, thông báo thu hồi đất thực hiện theo quy định tại Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. UBND cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất. Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi. Sau khi có kết quả thống nhất, hoặc hết thời hạn thông báo thì UBND cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất.

Sau khi có quyết định thu hồi, UBND xã có trách nhiệm phối hợp với ban bồi thường, giải phóng mặt bằng tiến hàng kế hoạch thu hồi đất, kiểm tra, khảo sát, đo đạc. Khi này thì những cá nhân, tổ chức có đất bị thu hồi có trách nhiệm phối hợp thực hiện nhiệm vụ trên.

Tiếp đó, trên cơ sở kết quả kiếm tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì ban bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trơ, tái định cư đối với từng tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đất thu hổi để lấy ý kiến.

Sau khi phương án chi tiết được lập, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến của nhân dân, nhất là các đối tượng bị thu hồi đất. Hình thức lấy ý kiến là:tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.

Cuối cùng, phương án được duyệt và thực hiện trên thực tế. Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi bàn giao mặt bằng cho ban dự án, nhận tiền bồi thường và hưởng phương án tái định cư được lập và thông qua.bTheo quy định tại Điều 93 Luật đất đai 2013, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi.

Thời hạn thông báo thu hồi đất

Hình ảnh Quy định của pháp luật về thời hạn thông báo cưỡng chế thu hồi đất
Quy định của pháp luật về thời hạn thông báo cưỡng chế thu hồi đất

Theo quy định tại Điều 67 Luật đất đai 2013 về việc thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:

  • Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.
  • Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.
  • Người có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
  • Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật đất đai 2013, trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Chậm nhất là 90 ngày (hoặc 180 ngày) trước khi có quyết định thu hồi đất ở đây được hiểu là thời gian tính từ khi thông báo thu hồi đất đến khi ra quyết định thu hồi đất ít nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp, 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp. Như vậy, việc các cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành cưỡng chế thu hồi đất khi chưa hết hạn thông báo thu hồi đất là hoàn toàn sai quy định của pháp luật.

Trên đây là bài viết tư vấn về nội dung “Việc cưỡng chế thu hồi đất khi chưa hết thời hạn thông báo thu hồi đất thì có đúng luật hay không?”. Trong trường hợp khách hàng còn thắc mắc thêm về vấn đề liên quan đến bài viết hoặc hỗ trợ tư vấn pháp lý nào khác xin vui lòng liên hệ Luật sư Phan Mạnh Thăng theo số Hotline 0908 748 368 để được hỗ trợ giải đáp thắc mắc trong thời gian sớm nhất. Xin cảm ơn!