Luật Dân sự

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự cố y khoa

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự cố y khoa là vấn đề hẳn được rất nhiều người quan tâm. Sự cố y khoa nguyên nhân có thể đến từ sai sót có chuyên môn và sai sót không có chuyên môn, do đó để hiểu rõ hơn về trách nhiệm bồi thường của cơ sở khám, chữa bệnh hay của người hành nghề đối với vụ việc. Xin mời Quý bạn đọc theo dõi bài viết của chúng tôi sau đây:

Bác sĩ đang khám, chữa bệnh cho bệnh nhânBác sĩ đang khám, chữa bệnh cho bệnh nhân

Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự cố y khoa

Trường hợp có sai sót chuyên môn

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 73 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 về việc xác định người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Bộ luật này có một trong các hành vi sau đây:

  • Vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc và điều trị người bệnh;
  • Vi phạm các quy định chuyên môn kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp;
  • Xâm phạm quyền của người bệnh.

Do đó, khi có sai sót về chuyên môn kỹ thuật, gây ra tai biến cho người bệnh thì cơ sở khám chữa bệnh phải bồi thường thiệt hại bao gồm cả tổn thất tinh thần.

Tòa xét xử mức bồi thường phù hợp cho bệnh nhânTòa xét xử mức bồi thường phù hợp cho bệnh nhân

Trường hợp không có sai sót chuyên môn

Căn cứ Khoản 2 Điều 73 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định người hành nghề không có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này xác định thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không phải bồi thường thiệt hại

  • Đã thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh nhưng vẫn xảy ra tai biến đối với người bệnh;
  • Trong trường hợp cấp cứu nhưng do thiếu phương tiện, thiết bị kỹ thuật, thiếu người hành nghề theo quy định của pháp luật mà không thể khắc phục được hoặc bệnh đó chưa có quy định chuyên môn để thực hiện dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh; các trường hợp bất khả kháng khác dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh.

Và trách nhiệm của người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi xảy ra tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh được quy định tại Điều 76 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009:

  • Trường hợp xảy ra sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến cho người bệnh hoặc trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 73 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã mua bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bệnh theo hợp đồng bảo hiểm đã ký với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.

Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa mua bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này thì phải tự bồi thường thiệt hại cho người bệnh theo quy định của pháp luật.

  • Ngoài việc bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến cho người bệnh phải chịu các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật.
  • Trường hợp xảy ra tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 73 của Luật này thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề không phải bồi thường thiệt hại.

Căn cứ xác định bồi thường thiệt hại

Phải có thiệt hại xảy ra

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai biến trong y khoa cũng là một loại trách nhiệm dân sự nên theo Điều 361 Bộ luật Dân sự 2015 thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm: Thiệt hại về vật chất; Thiệt hại về tinh thần.

  • Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
  • Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.

>>> Xem thêm: Bệnh nhân tử vong, bác sĩ phải chịu trách nhiệm khi nào?

Có hành vi trái pháp luật

Khi khám chữa bệnh, người hành nghề và người bệnh thông qua một loại hợp đồng dịch vụ, mỗi bên đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau. Do đó, khi vi phạm một trong những nghĩa vụ cũng được xem là hành vi vi phạm hợp đồng.

Hành vi vi phạm là hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm nghĩa vụ cơ bản của người khám chữa bệnh dẫn đến xảy ra sai sót trong y khoa.

Lỗi

Căn cứ Điều 364 BLDS 2015 quy định về Lỗi trong trách nhiệm dân sự:

Lỗi bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý.

Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Như những trường hợp gây thiệt hại khác, khi có lỗi thì phải bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên Luật khám chữa bệnh còn buộc người hành nghề, cơ sở khám chữa bệnh bồi thường ngay cả khi không có lỗi trong một số trường hợp:

  • Khi cấp cứu nhưng do thiếu phương tiện, thiết bị kỹ thuật, thiếu người hành nghề theo quy định của pháp luật mà không thể khắc phục được
  • Bệnh đó chưa có quy định chuyên môn để thực hiện dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh;
  • Các trường hợp bất khả kháng khác dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh

Cơ sở pháp lý: Điểm b Khoản 2 Điều 73 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với thiệt hại xảy ra

Khi có tai biến xảy ra do lỗi của người hành nghề thì đó phải là kết quả do hành vi vi phạm nghĩa vụ của người hành nghề gây ra hay hành vi vi phạm của người khám chữa bệnh là nguyên nhân trực tiếp dân đến tai biến của người bệnh.

>>> Xem thêm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm tính mạng.

Quy định về khởi kiện bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự cố y khoa

Căn cứ Điều 80 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định về tranh chấp khám bệnh, chữa bệnh:

Thứ nhất, Tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh là tranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh giữa các đối tượng sau đây:

  • Người bệnh, người đại diện của người bệnh;
  • Người hành nghề;
  • Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Thứ hai, Tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh được giải quyết như sau:

  • Các bên tranh chấp có trách nhiệm tự hòa giải về nội dung tranh chấp;
  • Trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh là 05 năm, kể từ khi sự việc xảy ra.

Khi khám bệnh, chữa bệnh thi người hành nghề và người bệnh đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau là các điều khoản thường lệ (được pháp luật quy định sẵn, khi giao kết được coi là mặc nhiên thừa nhận) dưới hình thức hợp đồng. Vì vậy hợp đồng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cũng chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015.

Thẩm quyền giải quyết

Căn cứ Khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015) quy định các tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong đó, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, tổ chức.

Do đó, tranh chấp về bồi thường ngoài hợp đồng sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân cấp huyện theo quy định Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Nhưng khi tranh chấp xảy ra có yếu tố nước ngoài, ví dụ: đương sự là người nước ngoài… thì căn cứ vào Điều 37 BLTTDS 2015, tranh chấp ấy sẽ được Tòa án Nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

Hồ sơ khởi kiện

Căn cứ Khoản 4 và Khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015 thì hồ sơ tiến hành khởi kiện ra Tòa án Nhân dân bao gồm:

  • Đơn khởi kiện (Mẫu số 23-DS Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP);
  • Giấy tờ tùy thân: CCCD/CMND;
  • Các tài liệu chứng cứ kèm theo: Hợp đồng, văn bản thỏa thuận giao dịch, chứng cứ chứng minh người hành nghề có sai sót chuyên môn…;
  • Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (ghi rõ bản chính, bản sao).

Trình tự thủ tục khởi kiện

Để giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự cần phải theo trình tự thủ tục sau đây:

Bước 1: Nội đơn khởi kiện theo Mẫu số 23 – DS (Ban hành kèm theo Nghị Quyết 01/2017/NQ – HĐTP, do Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao ban hành ngày 13/07/2017).

Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án Nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc hay Tòa án nơi nguyên đơn cư trú nếu các bên có thỏa thuận.

Bước 2: Thụ lý và mở phiên họp

  • Trong thời hạn 03 ngày Chánh án sẽ phân công thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
  • Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công Thẩm phán phải xem xét có thụ lý vụ án hay không.
  • Sau khi thụ lý, Chánh án phân công Thẩm phán khác giải quyết vụ án trong thời hạn 03 ngày.
  • Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán tiến hành lập hồ sơ, xem xét, xác minh thu thập chứng cứ và tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Bước 3: Tòa án ra quyết định

  • Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
  • Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
  • Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
  • Đưa vụ án ra xét xử.

Cơ sở pháp lý: Điều 39, Điều 191, Điều 203, Điều 212, Điều 214, Điều 217, Điều 220, khoản 2 Điều 286 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015)

Luật sư tư vấn các vấn đề liên quan đến mức bồi thường và thủ tục khởi kiện

  • Tư vấn hướng giải quyết tranh chấp mức bồi thường thiệt hại cơ sở khám chữa bệnh và người hành nghề phải thực hiện.
  • Tư vấn thủ tục hòa giải tranh chấp.
  • Tư vấn các thủ tục khởi kiện.
  • Soạn thảo đơn từ, chuẩn bị hồ sơ nhằm giải quyết nhu cầu thiết thực cho khách hàng. Đơn từ ở đây có thể là đơn khiếu nại, đơn tố cáo cơ quan cấp có thẩm quyền.
  • Trực tiếp thực hiện yêu cầu của khách hàng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của khách hàng cũng như trực tiếp làm việc với các cơ quan có thẩm quyền.
  • Tham gia trực tiếp vào quá trình tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Luật sư tư vấn giải quyết thủ tục cần thiếtLuật sư tư vấn giải quyết thủ tục cần thiết

Bài viết trên của chúng tôi đã giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự cố y khoa. Nếu Quý bạn đọc còn bất kỳ thắc mắc về thủ tục khởi kiện hoặc mức bồi thường, hãy liên hệ ngay cho Luật sư tư vấn của chúng tôi qua số hotline 1900.6363.87.

5 (17 bình chọn)

Bài viết được Nguyễn Văn Đệ - Luật sư kiểm duyệt: Nguyễn Trần Phương
Nguyễn Văn Đệ - Luật sư kiểm duyệt: Nguyễn Trần Phương

Tác giả: Chuyên Viên Pháp Lý

Lĩnh vực tư vấn: Lao Động, Hôn Nhân Gia Đình, Dân Sự, Thừa Kế

Trình độ đào tạo: Đại Học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 3

Tổng số bài viết: 767 bài viết