Giao kết sai thẩm quyền trong M&A không tự động bị vô hiệu nhưng tạo ra rủi ro pháp lý nghiêm trọng có thể dẫn đến thiệt hại tài chính hàng tỷ đồng cho doanh nghiệp tham gia giao dịch. Thống kê từ các tòa án kinh tế cho thấy tranh chấp M&A tại Việt Nam liên quan trực tiếp đến vấn đề vi phạm thẩm quyền ký kết hợp đồng. Tính hiệu lực của giao dịch M&A phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Bài viết sau của Chuyên tư vấn luật sẽ phân tích các trường hợp giao kết sai thẩm quyền có thể bị tuyên vô hiệu và đưa ra các giải pháp khắc phục hiệu quả.

Mục Lục
Các trường hợp giao kết sai thẩm quyền có thể bị tuyên vô hiệu
Vô hiệu do người xác lập không có quyền đại diện
Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định điều kiện chung để giao dịch dân sự có hiệu lực. Theo đó, điều kiện về chủ thể là một trong các yếu tố tiên quyết để giao dịch M&A có hiệu lực. Căn cứ Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015 giao dịch M&A có thể bị tuyên vô hiệu nếu người xác lập giao dịch không có quyền đại diện cho công ty thực hiện nội dung này.
Ngoài ra, theo quy định về 142 Bộ luật Dân sự 2015 thì giao dịch do người không có thẩm quyền đại diện ký kết sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của bên được đại diện. Theo đó, nếu người xác lập giao dịch không có quyền đại diện cho công ty thì sẽ có thể bị tuyên vô hiệu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp giao dịch M&A vẫn có thể phát sinh hiệu lực khi:
- Công ty được đại diện đã công nhận giao dịch.
- Công ty biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý.
- Công tylỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.
>> Xem thêm: Bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu
Vô hiệu do vượt quá phạm vi đại diện
Giao kết sai thẩm quyền trong M&A do vượt quá phạm vi đại diện theo Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 không mặc nhiên vô hiệu mà tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự do người đại diện xác lập vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện.
Tuy nhiên, pháp luật quy định 3 trường hợp ngoại lệ mà giao dịch M&A được xác lập do người đại diện thực hiện vượt quá phạm vi đại diện vẫn có hiệu lực theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015:
- Công ty đồng ý;
- Công ty biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lý;
- Công ty có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc vượt quá phạm vi đại diện.
Việc xác định các trường hợp ngoại lệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì hiệu lực giao dịch M&A.
Vô hiệu do vi phạm Điều lệ công ty đối với các giao dịch có giá trị lớn
Khoản 1 Điều 167 và khoản 1 Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cụ thể về thẩm quyền phê duyệt các giao dịch có giá trị lớn. Giao kết sai thẩm quyền trong M&A thường vi phạm các quy định này khi giá trị giao dịch vượt quá ngưỡng cho phép mà không có sự chấp thuận của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông. Điều lệ công ty thường quy định rõ ràng về ngưỡng giá trị giao dịch cần phải có sự phê duyệt của cơ quan quản lý cao hơn.
Theo quy định hiện hành, giao dịch M&A có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản trở lên phải được Đại hội đồng cổ đông phê duyệt. Đối với các giao dịch có giá trị từ 20% đến dưới 35%, Hội đồng quản trị có thẩm quyền quyết định trừ khi Điều lệ công ty quy định khác. Việc không tuân thủ các quy định này có thể dẫn đến tình trạng giao kết sai thẩm quyền và nguy cơ hợp đồng M&A bị tuyên vô hiệu.
Trước khi thực hiện giao dịch M&A, các bên cần xem xét kỹ Điều lệ công ty để xác định chính xác thẩm quyền và trình tự phê duyệt.
Giao dịch không được cơ quan có thẩm quyền nội bộ phê duyệt
Khoản 4 Điều 167 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định đối với một số giao dịch cụ thể trong công ty cổ phần như mua bán, sáp nhập, chuyển nhượng vốn, việc ký kết phải được cơ quan nội bộ có thẩm quyền (ĐHĐCĐ, HĐQT) phê duyệt trước. Nếu không có sự phê duyệt bằng nghị quyết, thì giao dịch sẽ không có giá trị ràng buộc với công ty.
Điều này đặc biệt quan trọng trong các giao dịch M&A có yếu tố tái cấu trúc công ty, vì nếu thiếu cơ chế thông qua nội bộ, giao dịch có thể bị cổ đông khác khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu.
Đối với các hợp đồng M&A có giá trị lớn hơn 10% tổng tài sản giữa công ty và cổ đông sở hữu từ 51% cổ phần trở lên, cần có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trong trường hợp này, cổ đông có lợi ích liên quan không có quyền biểu quyết, và hợp đồng được chấp thuận theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 148.
Khoản 5 Điều 167 quy định hậu quả pháp lý khi vi phạm: hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu theo quyết định của Tòa án và người liên quan phải liên đới bồi thường thiệt hại, hoàn trả lợi ích thu được. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ đúng trình tự phê duyệt trong giao dịch M&A.

Khuyến nghị về các phương thức khắc phục có thể đảm bảo hiệu lực giao dịch
Yêu cầu công ty ra quyết định phê duyệt giao dịch (ratify) để hợp pháp hóa hợp đồng.
Phương thức khắc phục hiệu quả nhất cho giao kết sai thẩm quyền trong M&A là yêu cầu công ty ra quyết định phê duyệt giao dịch sau khi đã ký kết (ratification). Biện pháp này hợp pháp hóa hợp đồng đã được ký nhưng chưa có đủ thẩm quyền ban đầu. Việc phê duyệt cần được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền phù hợp theo quy định pháp luật và Điều lệ công ty.
Trình tự phê duyệt phải tuân thủ các quy định tương tự như phê duyệt giao dịch ban đầu. Đối với giao dịch cần chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, cần tổ chức họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản với đầy đủ thành phần tham gia. Nghị quyết phê duyệt giao dịch phải được thông qua với tỷ lệ phiếu theo quy định và được lập thành văn bản có đầy đủ chữ ký của người có thẩm quyền.
Hiệu lực của quyết định phê duyệt giao dịch có tác dụng hồi tố, tức là hợp pháp hóa giao dịch từ thời điểm ký kết ban đầu. Tuy nhiên, quyền của bên thứ ba ngay tình vẫn được bảo vệ theo quy định pháp luật. Hoạt động này cần thực hiện càng sớm càng tốt để tránh các rủi ro pháp lý có thể phát sinh trong quá trình chờ đợi.
Cài điều kiện tiên quyết trong hợp đồng M&A
Biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất là cài đặt điều kiện tiên quyết trong hợp đồng M&A: “Hiệu lực khi có Nghị quyết ĐHĐCĐ/HĐQT/ủy quyền hợp lệ”. Điều khoản này đảm bảo hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được cơ quan có thẩm quyền chính thức phê duyệt, tránh rủi ro giao kết sai thẩm quyền ngay từ đầu. Việc thiết lập điều kiện tiên quyết cần được thực hiện một cách cụ thể và rõ ràng.
Điều kiện tiên quyết cần xác định rõ cơ quan phê duyệt, thời hạn hoàn thành, và hậu quả pháp lý khi không đáp ứng được điều kiện. Ví dụ: “Hợp đồng này có hiệu lực khi có Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông công ty ABC phê duyệt giao dịch trong vòng 60 ngày kể từ ngày ký. Nếu không có Nghị quyết trong thời hạn này, hợp đồng tự động chấm dứt mà không phát sinh trách nhiệm pháp lý cho các bên.”
Ngoài điều kiện về phê duyệt nội bộ, hợp đồng M&A còn có thể cài đặt các điều kiện khác như phê duyệt của cơ quan quản lý nhà nước, hoàn tất thủ tục thẩm định, hoặc đáp ứng các chỉ tiêu tài chính cụ thể.
Đảm bảo bên thứ ba (bên liên quan) ngay tình, không biết việc giao kết sai thẩm quyền
Giao kết sai thẩm quyền trong M&A có thể được duy trì hiệu lực khi chứng minh được bên thứ ba có thiện chí và không biết về vi phạm thẩm quyền. Nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình được quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015.
Theo khoản 1 Điều 133, trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập với người thứ ba vẫn có hiệu lực.
Để đảm bảo tính ngay tình, bên thứ ba cần thực hiện sự thẩm định kỹ lưỡng về thẩm quyền của người ký hợp đồng. Điều này bao gồm việc xem xét Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Điều lệ công ty, Nghị quyết bổ nhiệm người đại diện pháp luật, và các văn bản ủy quyền liên quan. Việc lưu giữ đầy đủ tài liệu chứng minh quá trình kiểm tra này là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền lợi.
Tính ngay tình cũng được đánh giá dựa trên kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của bên thực hiện giao dịch. Đối với các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư hoặc công ty có kinh nghiệm M&A, yêu cầu về mức độ kiểm tra cao hơn so với các nhà đầu tư cá nhân.
>> Xem thêm: Quy định bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự bị vô hiệu

Dịch vụ luật sư tư vấn giao dịch M&A
Dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của giao dịch M&A. Luật sư chuyên ngành M&A có kinh nghiệm và kiến thức sâu rộng về các quy định pháp luật, giúp khách hàng tránh được rủi ro giao kết sai thẩm quyền. Việc sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý từ giai đoạn đầu giúp tiết kiệm chi phí và thời gian, đồng thời đảm bảo giao dịch diễn ra suôn sẻ.
- Thẩm định pháp lý (legal due diligence) toàn diện về công ty mục tiêu.
- Xác minh thẩm quyền và quyền đại diện của các bên tham gia giao dịch
- Soạn thảo và đàm phán các điều khoản trong hợp đồng M&A
- Tư vấn cấu trúc giao dịch tối ưu từ góc độ pháp lý và thuế
- Chuẩn bị hồ sơ và hỗ trợ thủ tục phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền
- Đánh giá và quản lý rủi ro pháp lý trong quá trình thực hiện giao dịch
- Tư vấn các biện pháp khắc phục khi phát sinh vấn đề về thẩm quyền
- Hỗ trợ hoàn tất các thủ tục và chuyển giao tài sản
- Tư vấn về nghĩa vụ công bố thông tin và báo cáo với cơ quan quản lý
- Giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến giao dịch M&A
>>> Xem thêm: Thực hiện thủ tục M&A có cần Luật sư không?
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Có bắt buộc phải có Nghị quyết HĐQT hoặc ĐHĐCĐ trước khi ký hợp đồng M&A không?
Không phải mọi trường hợp đều cần. Tuy nhiên, đối với giao dịch có giá trị lớn như quy định tại khoản 1 Điều 138 và khoản 1 Điều 167 Luật Doanh nghiệp 2020, nghị quyết phê duyệt là bắt buộc. Trường hợp không có, giao dịch bị xem là ký sai thẩm quyền và tiềm ẩn nguy cơ bị vô hiệu nếu bị bên liên quan khởi kiện.
Việc công bố thông tin không trung thực trong giao dịch M&A có làm vô hiệu hợp đồng?
Việc cung cấp thông tin không trung thực có thể dẫn đến giao dịch M&A bị tuyên vô hiệu do bị lừa dối, theo Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu một bên cố tình cung cấp sai thông tin về thẩm quyền hoặc tư cách pháp lý của người ký kết nhằm thúc đẩy ký hợp đồng, bên còn lại có thể yêu cầu hủy bỏ giao dịch. Ngoài ra, hành vi công bố sai sự thật còn có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự tùy mức độ.
Nếu cổ đông lớn ký giao dịch nhưng không đúng thẩm quyền, có bị vô hiệu?
Có thể bị vô hiệu. Dù là cổ đông lớn hay người sáng lập, nếu không được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT ủy quyền thì không có quyền đại diện pháp lý cho công ty. Việc họ ký kết thay công ty có thể bị xem là vượt quá phạm vi đại diện. Trường hợp này, giao dịch vẫn có thể hợp lệ nếu được công ty phê duyệt sau đó, theo cơ chế “ratification”.
Kết luận
Giao kết sai thẩm quyền trong M&A không tự động vô hiệu nhưng tạo ra thiệt hại nghiêm trọng và ảnh hưởng uy tín của doanh nghiệp. Việc nắm vững các quy định pháp luật về thẩm quyền, thiết lập quy trình kiểm soát nội bộ chặt chẽ và áp dụng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả là yếu tố quyết định thành công của giao dịch M&A. Sự tư vấn chuyên sâu từ luật sư có kinh nghiệm không chỉ giúp tránh rủi ro vô hiệu mà còn tối ưu hóa hiệu quả và giá trị giao dịch. Liên hệ hotline 1900636387 để được đội ngũ luật sư Chuyên tư vấn luật tư vấn về các vấn đề pháp lý trong giao dịch M&A.
>>> Xem thêm: Mua bán doanh nghiệp M&A: Quy trình cơ bản của một thương vụ


























