CƠ CHẾ, NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ KHI CHƯA CÓ ĐIỀU LUẬT ÁP DỤNG

14 /012018

CƠ CHẾ, NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ KHI CHƯA CÓ ĐIỀU LUẬT ÁP DỤNG

Theo tinh thần của Hiến pháp 2013 thì Nhà nước phải có trách nhiệm tạo cơ chế pháp lý đầy đủ để mọi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân mà được Hiến pháp, pháp luật công nhận đều được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện. Tòa án có trách nhiệm và quyền hạn để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo vệ quyền, lợi của cá nhân, tổ chức.

Cùng tiến trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta thì cũng xảy ra nhiều tranh chấp và yêu cầu dân sự đa dạng, cần Tòa án có thẩm quyền giải quyết nhưng do không thể dự liệu được hết các tranh chấp, yêu cầu cần giải quyết nên pháp luật về tố tụng dân sự và Bộ luật dân sự có quy định về việc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng mà sẽ áp dụng tập quán, áp dụng nguyên tắc tương tự, không có tương tự thì áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, không án lệ thì trên cơ sở lẽ công bằng để giải quyết. Vấn đề này được ghi nhận cụ thể tại Khoản 2 Điều 41 BLDS hiện hành: Vụ việc dân sự chưa có điều luật áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng. Việc giải quyết các vụ việc dân sự chưa có điều luật áp dụng được thực hiện theo nguyên tắc tại Điều 5, Điều 6 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) và quy định tại Điều 43 đến Điểu 45 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS).

1. Thẩm quyền của Tòa án và trình tự, thủ tục thụ lý giải quyết vụ việc dân sự chưa có điều luật áp dụng

Mặc dù các vụ việc chưa có luật áp dụng nhưng nếu là các tranh chấp về dân sự, hôn nhận gia đình, kinh doanh thương mai và lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án thì thực hiện xác định theo quy định tại các điều từ Điều 35 đến Điều 41 của BLTTDS về thẩm quyền cấp huyện, cấp tỉnh, thẩm quyền của tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu; chuyển vụ việc dân sự cho tòa án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền. Cũng như trình tự thủ tục thụ lý giải quyết tương tự tranh chấp dân sự có luật áp dụng khác.

2. Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

Vì không có luật áp dụng nên để giải quyết nên pháp luật về tố tụng dân sự đã định hướng giải quyết cho các Tòa án khi xư lý các vụ việc chưa có luật áp dụng là áp dụng theo thứ tự sau: áp dụng tập quán, áp dụng nguyên tắc tương tự, không có tương tự thì áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, không án lệ thì trên cơ sở lẽ công bằng để giải quyết.

a. Áp dụng tập quán

Tập quán là quy tắc xử xự, thói quen được lặp đi lặp lại nhiều lần được công nhận và áp dụng ở một cộng đồng trong đời sống xã hội , nó tồn tại rất đa dạng trong cuộc sống, ở các vùng miền của nước ta. Nhưng không phải tập quán nào cũng có thể áp dụng để giải quyết vụ việc dân sự, để có thể là căn cứ để áp dụng giải quyết vụ việc dân sự thì cần phải tuân theo nguyên tắc áp dụng tập quán của BLDS. Theo Điều 5 Bộ luật dân sự thì: Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự. Như vậy, tập quán chỉ được thừa nhận áp dụng để điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là một nguồn luật khi đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, giá trị áp dụng của tập quán. Tập quán phải có nguồn gốc rõ ràng thuộc vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực nào đó của đời sống dân sự, bởi đây là căn cứ để Tòa án lựa chọn tập quán để áp dụng. Đồng thời còn là giải pháp để giải quyết những tình huống xung đột trong áp dụng tập quán giúp xác định được tập quán cần áp dụng. Ví dụ: theo Khoản 2 Điều 29 BLDS 2015 thì “Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn”. Bên cạnh đó tập quán được áp dụng phải tồn tại một cách công khai phổ biến vào thời điểm áp dụng và có tính liên tục để đảm bảo rằng các đương sự biết đến tập quán đó hoặc tập quán đó không bị mai một mà vẫn được áp dụng vào thời điểm áp dụng.

Thứ hai, Theo Khoản 1 Điều 45 BLTTDS thì tập quán chỉ được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận và không có quy định của pháp luật điều chỉnh, theo đó pháp luật tôn trọng quyền tự do, tự nguyện, sự thỏa thuận của các đương sự trong xác lập quan hệ dân sự trước khi xem xét áp dụng quy định của pháp luật và chỉ khi các đương sự không có thỏa thuận mà pháp luật không quy định gì để giải quyết thì mới được áp dụng tập quán.

Thứ ba, Việc áp dụng tập quán cũng phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự tại Điều 3 BLDS, bởi đây là nền tảng của hệ thống pháp luật. Theo đó: Tập quán được áp dụng phải đảm bảo cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử. Các quy định tập quán không đảm bảo điều kiện này thì sẽ không được phép áp dụng. Tập quán được áp dụng không được trái đạo đức xã hội, một tập quán trái đạo đức xã hội thì không thể được áp dụng làm chuẩn mực ứng xử cho các quan hệ dân sự. Tập quán được áp dụng không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.

b. Áp dụng tương tự pháp luật

Căn cứ Khoản 2 Điều 4 BLTTDS thì: Việc áp dụng tương tự pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể khi trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó bằng cách áp dụng các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực đối với những quan hệ tương tự như các quan hệ cần xử lý đó. Ví dụ: dùng quan hệ vay để xử lý quan hệ hụi họ, dùng các quan hệ về dịch vụ để điều chỉnh quan hệ đổi công.. . Việc áp dụng tương tự pháp luật chỉ được thực hiện trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng.

Việc áp dụng tương tự xảy ra trong trương hợp không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó nhưng có quy phạm điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy và ta có thể xác định được vị trí quy định cụ thể tại điều khoản nào của văn bản nào để áp dụng giải quyết vụ việc không có luật áp dụng. Nhưng để có thể áp dụng tương tự pháp luật thì cần đáp ứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất, Tòa án phải xác định được tính chất pháp lý của vụ việc, tức là vụ việc đó phải thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật, tức là quan hệ đó phải được pháp luật công nhận, cần được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Thứ hai, Tòa án phải xác định một cách cẩn trọng và chắc chắn rằng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó, nhưng có quy phạm điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự đó một cách cụ thể.

3. Áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng

Việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng chỉ được thực hiện chỉ khi các bên không có thỏa thuận, không có quy phạm pháp luật cũng như pháp luật tương tự điều chỉnh, không thể áp dụng tập quán. Trong đó:

* Áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

Khi không có quy phạm trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó và cũng không có quy phạm điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy thì Tòa án phải giải quyết bằng cách áp dụng pháp luật dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung của pháp luật và ý thức pháp luật quy định tại Điều 3 BLDS.

* Áp dụng án lệ

Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử . Các án lệ này chứa đựng các lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng.

Để áp dụng án lệ để giải quyết thì cần đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, án lệ được áp dụng phải là án lệ được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.

Thứ hai, khi áp dụng án lệ Tòa án cần xác định cho được là các tình tiết khách quan và vấn đề pháp lý cần được giải quyết trong vụ việc dân sự mà Tòa án đã thụ lý có giống với các tình tiết khách quan và vấn đề pháp lý đã được giải quyết trong bản án, quyết định có chứa đựng án lệ hay không. Cụ thể: giữa vụ việc cần áp dụng án lệ và vụ việc đã được giải quyết trong án lệ đó có tranh chấp, yêu cầu về cùng một loại quan hệ dân sự.

* Áp dụng lẽ công bằng

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 45 BLTTDS thì lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó. Nhưng để xác định đâu là lẽ công bằng còn tùy thuộc vào nhận thức và lương tâm của thẩm phán nên có thể sẽ xảy ra sự tùy tiện, cách vận dụng khác nhau khi xét xử của các Tòa án.

Tóm lại, để giải quyết vụ việc dân sự Tòa án áp dụng căn cứ giải quyết theo thứ tự ưu tiên sau: Thỏa thuận, quy phạm pháp luật, tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng. Với quy định theo hướng mở, tạo điều kiện để Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự dù không có luật áp dụng. Từ đó sẽ giải quyết triệt để các tranh chấp, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đồng thời đảm bảo thực hiện được trách nhiệm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo quy định của Hiến pháp 2013 của Chính phủ, Tòa án nhân dân.

 

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.