CÁC TRƯỜNG HỢP ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

01 /122017

CÁC TRƯỜNG HỢP ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

I. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

1. Quy định chung về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một trong 04 quyết định mà khi rơi vào các trường hợp luật định, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự phải ra trong thời hạn chuẩn bị xét xử. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015):

“1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;

c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;

d) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.

Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;

g) Các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;

h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

a) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

b) Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

c) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

3. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.

4. Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Vậy có thể hiểu: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định chấm dứt (hay ngừng) hoàn toàn việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Sau khi thụ lý vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi phát sinh một trong các trường hợp cụ thể sau:

a. Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế:

Trường hợp “Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 được hiểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ tố tụng gắn liền với quyền nhân thân của họ theo quy định của pháp luật không được chuyển giao lại cho những người thừa kế, khi đó chủ thể tham gia tố tụng không còn tồn tại và Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Do quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao lại cho người khác nên khi nguyên đơn hoặc bị đơn tham gia tố tụng trong vụ án dân sự liên quan đến quyền nhân thân là cá nhân đã chết thì dù có người thuộc các hàng thừa kế nhưng những người này cũng không được kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, trong trường hợp này Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

b. Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó:

Trong quá trình giải quyết vụ án mà một trong bên đương sự là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc phá sản thì sẽ làm chấm dứt tư cách pháp lý, chấm dứt mọi hoạt động trên thực tế và chấm dứt quyền, nghĩa vụ của của cơ quan, tổ chức đó. Tùy từng cơ quan, tổ chức mà trình tự thủ tục giải thể, phá sản được quy định riêng biệt trong pháp luật chuyên ngành (VD: Luật doanh nghiệp quy định trình tự giải thể đối với các doanh nghiệp bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; Nghị định số 55/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/6/2012 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; Luật phá sản năm 2014 quy định về trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giải quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi hành quyết định tuyên bố phá sản áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã……). Khi cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản, nếu không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của các cơ quan, tổ chức này để tiếp tục quá trình tố tụng thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự.

c. Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan

Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện: Xuyên suốt các quy định của BLTTDS 2015 về quyền rút yêu cầu khởi kiện được xác định là quyền đặc trưng, gắn liền với chủ thể tham gia tố tụng là nguyên đơn, cụ thể: Khoản 2 Điều 71 BLTTDS 2015 quy định nguyên đơn có quyền quyền thay đổi nội dung khởi kiện, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; tuy nhiên điểm c khoản 1 Điều 217 lại quy định chủ thể là “người khởi kiện” có quyền rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Người khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” và Điều 187 BLTTDS 2015:

“1. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

2. Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật.

3. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

4. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật.

5. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.

Nguyên đơn được xác định theo khoản 2 Điều 68 BLTTDS: “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm”.

Trường hợp thứ hai mà Tòa án được áp dụng để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 là: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan” nội dung của trường hợp này là tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập lần thứ hai cho nguyên đơn mà nguyên đơn vẫn vắng mặt (không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan) thì bị coi là từ bỏ quyền khởi kiện và Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Theo nội dung của quy định sử dụng cụm từ “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt” làm căn cứ để đình chỉ đồng nghĩa là tòa án phải gửi giấy triệu tập hợp lệ và nguyên đơn phải vắng mặt hai lần thì mới được phép đình chỉ.

d. Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó

Trường hợp quy định tại Điểm d khoản 1 Điều 217 BLTTDS được cụ thể hóa nội dung của pháp luật chuyên ngành luật phá sản năm 2014. Nội dung này được quy định tại Điều 41, 71, 72 Luật phá sản năm 2014, theo đó: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân thụ lý vụ việc phá sản, Tòa án nhân dân đang giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, tổ hợp tác, phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự (theo Điểm g Khoản 1 Điều 214 BLTTDS). Sau khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án nhân dân đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án nhân dân đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết.

e. Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định

Đây là một điểm mới quan trọng, cụ thể hóa một trong những nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng quy định tại khoản 2 Điều 70 BLTTDS: “Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật”. Nguyên đơn là người chủ động khởi kiện, chủ động yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Tránh trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức lạm dụng quyền khởi kiện, pháp luật tố tụng dân sự quy định khi đưa ra yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn phải nộp một khoản tạm ứng án phí dân sự, biên lai nộp tiền tạm ứng án phí là căn cứ để Tòa án tiến hành thụ lý một vụ án dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, trong những trường hợp luật định, Tòa án áp dụng biện pháp ra quyết định định giá tài sản, thành lập hội đồng định giá để có thể thu thập tài liệu chứng cứ, nhằm có căn cứ giải quyết vụ án. Theo quy định tại Điều 164 BLTTDS thì về nguyên tắc, nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản được xác định:

“1. Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.

2. Trường hợp các bên đương sự không thống nhất được về giá và cùng yêu cầu Tòa án định giá tài sản thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. Trường hợp có nhiều đương sự, thì các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo mức mà Tòa án quyết định.

3. Đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 104 của Bộ luật này thì nguyên đơn, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản”.

Khi nguyên đơn thuộc trường hợp có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí chi phí định giá tài sản mà nguyên đơn không nộp thì nguyên đơn sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý là Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và không xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nữa.

f. Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết

Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Theo quy định tại Điều 150 BLDS 2015 thì có 04 loại thời hiệu: Thời hiệu hưởng quyền dân sự; Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự; Thời hiệu khởi kiện; Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Một trong những điểm mới quan trọng của BLDS 2015 và BLTTDS 2015 là Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Như vậy, khi một bên hoặc các bên (đương sự) tham gia tố tụng yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu để giải quyết vụ án đang tranh chấp thì Tòa án mới áp dụng quy định về thời hiệu. Kể từ ngày 01/01/2017, một quan hệ pháp luật dân sự đã hết thời hiệu theo luật định, khi xảy ra tranh chấp và khởi kiện ra Tòa án, nhưng các bên đương sự không ai có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu thì Tòa án vẫn sẽ tiến hành thụ lý giải quyết vụ án bình thường; trước thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án sơ thẩm, hoặc quyết định giải quyết vụ án mà có đương sự có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án sẽ căn cứ theo điểm e khoản 1 Điều 217 ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Để áp dụng đúng, chính xác theo đúng tinh thần nội dung của điều luật, khi áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 Tòa án cần nắm rõ các điểm sau:

Trường hợp áp dụng: Đối với vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện.

Loại thời hiệu yêu cầu áp dụng: Khi đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Thời điểm đưa ra yêu cầu: Tại cấp sơ thẩm, trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án (VD: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự)

g. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 mà Tòa án đã tiến hành thụ lý giải quyết vụ án

Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 quy định:

“a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;

c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

d) Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;

đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

e) Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

g) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện”.

Khi một trong các trường hợp trên xảy ra trong giai đoạn trước khi thụ lý giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện. Sau khi Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án mà xảy ra, phát hiện một trong các trường hợp trên thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

h. Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định

BLTTDS 2015 đã có quy định mở, mang tính dự báo nhằm tạo cơ sở pháp lý, căn cứ vững chắc cho Tòa án áp dụng pháp luật ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà trong BLTTDS chưa quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

3. Thẩm quyền, thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

a. Thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Theo quy định tại Điều 219 BLTTDS 2015 thì thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm được xác định như sau:

- Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tại phiên tòa được hiểu kể từ sau khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thuộc về Hội đồng xét xử và phải được giải quyết ở tại phiên tòa.

b. Thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu; Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

- Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Trong trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 4 Điều 217 BLTTDS 2015 đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì thủ tục để Tòa án ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án là: Ngoài nội dung như quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm thông thường, Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Quyền khởi kiện lại vụ án: Khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có hiệu lực pháp luật, các đương sự không thể khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án một lần nữa nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 218 BLTTDS cũng quy định một số ngoại lệ theo đó các đương sự vẫn có thể khởi kiện lại một vụ án mới mặc dù trước đó đã bị đình chỉ giải quyết vụ án. Đó là các trường hợp:

- Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

- Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

- Đã có đủ điều kiện khởi kiện;

- Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.

Xử lý tiền tạm ứng án phí: Việc xử lý tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp theo quy định tại BLTTDS 2015 có nội dung như sau:

Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp: nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế (điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS); Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó (điểm b khoản 1 Điều 217 BLTTDS) hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp: Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện (điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS); Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định; Bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của BLTTDS thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết; Các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS mà Tòa án đã thụ lý; thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Cụ thể, khoản 2 Điều 273 BLTTDS, thời hạn kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của BLTTDS ; khoản 2 Điều 280 BLTTDS quy định thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định. Khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định nếu không bị kháng cáo, kháng nghị thì quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó có hiệu lực pháp luật và làm chấm dứt tư cách tố tụng, dừng hoạt động tố tụng trong vụ án.

Chế định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm là một chế định quan trọng được quy định trong BLTTDS, để việc hiểu, vận dụng được thống nhất chính xác trong thời gian tới rất mong Tòa án nhân dân tối cao có những hướng dẫn cụ thể về những điểm mới của BLTTDS 2015 nói chung và trong phần đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm nói riêng.

II. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án

Đình chỉ xét xử phúc thẩm là quyết định của toà án làm chấm dứt hoạt động tố tụng giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm và kết quả của quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm sẽ được công nhận, theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên được ấn định trong bản án, quyết định sơ thẩm sẽ được tôn trọng và có hiệu lực thi hành.

1. Các trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm.

a. Các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này; ( đã phân tích ở phần I)

b. Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;

Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

c. Người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị;

Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm.

d. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Trong các trường hợp này, bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi hành ngay và phải được gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.

 

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.