CÁC QUYẾT ĐỊNH, HÀNH VI BỊ KHÁNG CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

29 /052018

CÁC QUYẾT ĐỊNH, HÀNH VI BỊ KHÁNG CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Để đảm bảo nguyên tắc xét xử sơ thẩm phúc thẩm Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) quy định nguyên tắc Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Căn cứ Điều 271 và Điều 371 BLTTDS thì đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Người kháng cáo là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Người kháng cáo nếu không tự mình kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức có thể tự mình hoặc ủy quyền người khác làm đơn kháng cáo. Việc ủy quyền phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Trong văn bản ủy quyền phải có nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

1. Bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm

Trường hợp đương sự bất đồng đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nên kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ việc.Theo quy định của BLTTSS thì chỉ những bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực mới bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

Việc xét xử phúc thẩm không chỉ là xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm mà trên cơ sở, tài liệu đã có trong vụ án xét xử lại nội dung bản án, không chỉ trong phạm vi những phần bản án, quyết định bị kháng cáo mà có thể xem xét cả phần bản án, quyết định khác không bị kháng cáo nhưng liên quan đến việc giải quyết tổng thể vụ án.

a. Thời hạn kháng cáo

Do thời hạn kháng cáo có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền kháng cáo của các đương sự nên Điều 273 BLTTDS quy định cụ thể như sau: Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày. Tuy nhiên, thời điểm để tính thời hạn 15 ngày đối với các trường hợp khác nhau được xác định khác nhau.

Trường hợp thứ nhất, nếu các đương sự có mặt tại phiên tòa khi tòa tuyên án thì thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp thứ hai, nếu các đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp thứ ba, nếu các đương sự, người đại diện của đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng không có mặt khi Tòa án tuyên án thì khi tính thời hạn kháng cáo phải xét đến lý do vắng mặt của họ; nếu họ vắng mặt có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án, quyết định hoặc bản án được niêm yết; nếu họ vắng mặt không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án. Đây là một hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng khi những chủ thể này đã cố ý vắng mặt khi tòa tuyên án mà không có lý do.

Cách tính thời hạn kháng cáo theo Điều 273 BLTTDS là chưa bảo đảm tính bình đẳng trong tố tụng dân sự. Ở đây có hai trường hợp được coi là đương sự vắng mặt tại phiên tòa: Thứ nhất là trường hợp đương sự không tham gia phiên tòa ngay từ khi bắt đầu; Thứ hai là trường hợp đương sự có tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt khi tòa tuyên án. Tuy nhiên, Điều 273 chỉ đặt ra vấn đề xem xét lý do vắng mặt với trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa tuyên án, còn đối với trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa ngay từ đầu thì Tòa án không cần xét đến lý do vắng mặt. Như vậy, nếu theo quy định của Điều 273 thì người không có mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng sẽ được áp dụng quy chế pháp lý có lợi giống với người không có mặt tại phiên tòa có lý do chính đáng - thời điểm tính thời hạn kháng cáo đối với họ đều được xác định từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

b. Kháng cáo quá hạn

Về nguyên tắc, kháng cáo của đương sự chỉ được chấp nhận khi còn thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng cáo, các chủ thể không có quyền kháng cáo. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thể chấp nhận kháng cáo quá hạn nếu có lý do chính đáng. Quy định này là hợp lý bởi lẽ, kháng cáo là quyền tự định đoạt của đương sự nhưng do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà đương sự không thể thực hiện được quyền kháng cáo trong thời hạn pháp luật quy định. Khi đương sự có đầy đủ chứng cứ để chứng minh việc kháng cáo quá hạn là có lý do chính đáng thì phải được Tòa án chấp nhận.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 275 về phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn thì nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo quá hạn nên phải có sự tham gia của người kháng cáo quá hạn, vì việc chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Và nếu đã được thông báo tham gia phiên họp xem xét kháng cáo mà vắng mặt tại phiên họp thì coi như họ từ bỏ quyền tham gia phiên họp.Khi đó, dựa trên chứng cứ mà người kháng cáo quá hạn đã cung cấp để chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn của mình, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. Đồng thời, khoản 3 Điều 275 BLTTDS quy định rõ nguyên tắc xét lý do kháng cáo của Hội đồng xét kháng cáo, cụ thể: “Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số”.

c. Thủ tục kháng cáo bản án, quyết định của tòa án sơ thẩm

Hồ sơ kháng cáo bao gồm:

- Đơn kháng cáo đáp ứng quy định tại Điều 272 BLTTDS

- Tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Thẩm quyền nhận đơn là tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết

Căn cứ Điều 274 BLTTDS thì sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 272 của BLTTDS hay thời hạn kháng cáo, quyền kháng cáo của người kháng cáo. Sau đó Tòa án tiến hành các thủ tục sau:

- Yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng nếu kiểm tra thấy kháng cáo quá hạn

- Yêu cầu người kháng cáo làm lại hoặc sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo nếu kháng cáo chưa đúng quy định Điều 272 BLTTDS.

- Trả lại đơn kháng cáo khi xét thấy người kháng cáo không có quyền kháng cáo, người kháng cáo không làm lại đơn kháng cáo hoặc không sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo theo yêu cầu của Tòa án hoặc hết thời hạn nộp tạm ứng án phí mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là từ bỏ việc kháng cáo nếu không có lý do chính đáng.

- Chấp nhận đơn kháng cáo nếu đơn hợp lệ, và thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo kèm theo bản sao đơn kháng cáo, tài liệu, chứng cứ bổ sung mà người kháng cáo gửi kèm đơn kháng cáo.

Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo đã nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Sau đó Tòa án sẽ xem xét và tiến hành thủ tục xét xử phúc thẩm theo quy định của BLTTDS.

2. Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án dân sự

Căn cứ khoản 5 Điều 215 và khoản 4 Điều 217 BLTTDS thì không đồng ý với quyết định tạm đình chỉ hay đình chỉ vụ án, cho rằng xâm phạm quyền lợi hợp pháp của mình, đương sự có quyền kháng cáo quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm. Việc thực hiện kháng cáo quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tương tự như đối với bản án sơ thẩm.

3. Hậu quả của kháng cáo

Theo quy định tại Điều 282 BLTTDS thì những phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị thì chưa được thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay như cấp dưỡng, trả tiền công lao động, nhận lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe của công dân. Còn bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Người được thi hành có quyền yêu cầu được thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án đối với phần của bản án, quyết định sơ thẩm không b�� kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực pháp luật.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.