Theo quy định tại Khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì “Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa”.

Theo đó, Luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp biết thân chủ của mình đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà luật sư biết rõ trong quá trình thực hiện việc bào chữa đối với:

  1. Các tội danh về xâm phạm an ninh quốc gia, cụ thể:
  • Tội phản quốc
  • Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
  • Tội gián điệp
  • Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ
  • Tội bạo loạn
  • Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân
  • Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội
  • Tội phá hoại chính sách đoàn kết
  • Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • Tội phá rối an ninh
  • Tội chống phá cơ sở giam giữ
  • Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân
  • Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân
  1. Phạm tội với mức độ đặc biệt nghiêm trọng

Căn cứ theo Khoản 4 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Đây là một trong những quy định hạn chế đi quyền bào chữa của người luật sư trong quá trình hành nghề, bởi lẽ:

Thứ nhất, một trong những nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hình sự: Không ai bị xem là có tội khi chưa có phán quyết của tòa án. Mỗi vụ án hình sự từ khi xảy ra hành vi phạm tội, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm với thời gian rất dài, thủ tục khắt khe, biện pháp điều tra đa dạng, nỗ lực rất cao của các cơ quan tiến hành tố tụng mới xác định một người có tội hay không có tội. Trong khi đó, nếu luật sư chỉ mới được khách hàng thông tin về những dấu hiệu phạm tội mà lại cho rằng Luật sư biết rõ là phạm tội đặc biệt nguy hiểm thì không thực tiễn. Căn cứ vào đó để xác định luật sư phạm tội không tố giác tội phạm thì có ổn hay không?

Mặt khác, nếu như thân chủ bị luật sư tố cáo, sau quá trình điều tra lại được xác định không phạm tội, vậy luật sư phải bị khởi tố về hành vi vu khống người khác ???

Thứ hai, trách nhiệm của người luật sư khi bào chữa cho bị can, bị cáo là căn cứ trên các cơ sở pháp lý, xem xét vấn đề một cách toàn diện để thực hiện những quyền mà bị can, bị cáo được hưởng. Luật sư bảo vệ con người chứ không phải là kẻ phản chủ, đám vô lại, bất lương … Người ta đến nhờ luật sư gỡ tội, nay tội không được gỡ mà lại còn bị tố cáo nữa thì thử hỏi AI DÁM NHỜ LUẬT SƯ NỮA???

Điều này cũng khiến cho luật sư đứng trước việc vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp được quy định tại Khoản 4 điều 5 Luật Luật sư hiện hành và Quy tắc 3 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20/7/2011 của Hội đồng luật sư toàn quốc) quy định: Luật sư có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng, tận tâm với công việc, sử dụng kiến thức chuyên môn, các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của khách hàng… và Điều 25 Luật Luật sư và Quy tắc 12 quy định: Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó. Trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật; luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan và nhân viên của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được và giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật đất đai để được tư vấn miễn phí:

Công ty Luật Long Phan

Địa chỉ: 81 Cách Mạng Tháng Tám, phường Bến Thành, quận 01, Thành phố Hồ Chí Minh

Website: Chuyentuvanluat.com

Email: Chuyentuvanluat@gmail.com

Hotline: 0908.748.368 (Luật sư Thăng)

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.