Loại trừ trách nhiệm hình sự là những trường hợp được quy định trong các điều của Bộ luật Hình sự về việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, khi có đủ các căn cứ do pháp luật hình sự quy định, việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự, nhưng không bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi nguy hiểm đó không phải chịu TNHS.

  1. Sự kiện bất ngờ

Theo Điều 20 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015: Sự kiện bất ngờ là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện, cũng như hậu quả của hành vi do mình gây ra, người thực hiện hành vi trong trường hợp này là người không có lỗi (thiếu yếu tố lỗi, thiếu dấu hiệu của mặt chủ quan của tội phạm), do vậy, hành vi của họ không cấu thành tội phạm, không bị truy cứu TNHS về hành vi nguy hiểm đó.

Về sự kiện bất ngờ BLHS năm 1999 đã có quy định, BLHS năm 2015 cũng quy định và xét về cơ bản có sự giống nhau chỉ thay đổi bổ sung một vài từ ngữ trong quá trình lập pháp. Hành vi gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng trong hoàn cảnh cụ thể, người rơi vào trường hợp này cũng không thể thấy trước được hành vi của mình gây ra hậu quả nguy hiểm. Khác với trường hợp gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp lỗi vô ý, ở đây do điều kiện khách quan mang lại nên không nhìn thấy trước hậu quả, không buộc phải thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị coi là có lỗi và không phải chịu TNHS của hành vi gây thiệt hại do mình gây ra. Đây chính là điểm để phân biệt với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự khác được BLHS quy định như sự kiện bất khả kháng

  1. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Theo Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015: Trường hợp không có năng lực TNHS là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trạng thái do bệnh lý tâm thần hoặc loại bệnh lý khác nên đã hoàn toàn không thể nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện, cũng như tính chất pháp lý do hành vi của mình gây ra, không điều khiển được hành vi của mình (người thực hiện hành vi trong trường hợp thiếu dấu hiệu của mặt chủ quan của tội phạm), do vậy, hành vi của họ không cấu thành tội phạm. Trong trường hợp này, pháp luật ghi nhận họ không có lỗi và không phải chịu TNHS.

Về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự so với BLHS năm 1999, BLHS 2015 đã bỏ đi quy định về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại điều luật này. Theo quy định tại điều luật này, thì tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự có thể hiểu là trường hợp người người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác. Để xác định việc mất khả năng nhận thức hành vi hoặc mất khả năng điều khiển hành vi nguy hiểm cho xã hội phải có kết luận giám định và hậu quả cũng như tính chất của hành vi nguy hiểm cho xã hội.

  1. Phòng vệ chính đáng

Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015 ghi nhận: Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả của người phòng vệ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác đang bị xâm hại. Hành vi phòng vệ với hành vi xâm hại phải tương xứng với nhau, do đó không phải là tội phạm, không bị truy cứu TNHS. Người thực hiện hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu TNHS theo quy định của pháp luật.

Theo đó, một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng khi thoả mãn đồng thời hai dấu hiệu: một là có hành vi tấn công đang hiện hữu, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, tổ chức, quyền và lợi ích chính đánh của người phòng vệ hoặc của người khác”, hai là hành vi phòng vệ gây thiệt hại cho người xâm phạm là cần thiết việc quy định hai dấu hiệu này để xác định giới hạn của phòng vệ chính đáng bởi tại khoản 2 của điều luật quy định “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này”. Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng sẽ là tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 BLHS.

Về nguyên tắc, hành vi phòng vệ chính đáng phải tương xứng với hành vi xâm hại, nếu vượt quá giới hạn thì phải chịu TNHS đối với hành vi vượt quá đó. Người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, không đặt ra trường hợp lỗi vô ý trong trường hợp phòng vệ chính đáng. Hành vi phòng vệ được coi là hợp pháp khi việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp của người phòng vệ hoặc của người khác để tránh khỏi hành vi xâm hại; tính chất và mức độ gây thiệt hại của hành vi phòng vệ chính đáng tương xứng với hành vi xâm hại, không vượt quá giới hạn.

  1. Tình thế cấp thiết

Theo Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 2015: Tình thế cấp thiết là hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự của người nào đó nhằm mục đích tránh việc gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, hoặc của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức nếu sự nguy hiểm đó không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Theo đó, để được xem là tình thế cấp thiết cần phải có đầy đủ ba dấu hiệu: một là, phải có sự đe dọa hiện hữu và thực tế xâm phạm đối với lợi ích được pháp luật bảo vệ, hai là hành vi gây thiệt hại là biện pháp duy nhất để khắc phục sự nguy hiểm, ba là thiệt hại trong tình thế cấp thiết gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Tương tự phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết xác định ba dấu hiệu để nhận biết trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết theo khoản 2 điều luật này thì sẽ chịu trách nhiệm hình sự, cũng như được xem xét sẽ là tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 BLHS.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết có thể là hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc không dựa vào mức độ tương ứng của thiệt hại cần ngăn ngừa, được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý của chủ thể. Việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không bị pháp luật hình sự coi là tội phạm vì mục đích ngăn ngừa thiệt hại lớn hơn xảy ra nên không phải chịu TNHS.

e. Hành vi gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

Theo quy định tại Điều 24 BLHS năm 2015: hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ.

Việc bắt người phạm tội với mục đích bắt là để chuyển giao các đối tượng này cho cơ quan có thẩm quyền xử lý, đồng thời để người đó không tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc bỏ trốn sự truy nã của cơ quan tiến hành tố tụng. Việc thực hiện hành vi gây thiệt hại là biện pháp bất đắc dĩ, cuối cùng, duy nhất, không còn cách nào khác ngoài việc dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ. Nếu không tiến hành ngay tức khắc, người đó sẽ chống trả, bỏ trốn hoặc tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng. Người thực hiện hành vi trong khi bắt người phạm tội với trạng thái tâm lý là lỗi cố ý, nhằm mục đích ngăn ngừa việc tiếp tục phạm tội hoặc tẩu thoát. Việc thực hiện hành vi bắt người phải là hành vi hợp pháp, có căn cứ pháp lý như: Người bị bắt giữ đang thực hiện hành vi phạm tội quả tang, đang trốn tránh sự truy nã của cơ quan điều tra, có dấu hiệu thực tế chống trả… và người bắt giữ đã tiến hành các biện pháp khác, nhưng không còn cách nào khác là dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt.

Việc bổ sung trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự này phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là phải dựa vào sức mạnh của cả hệ thống chính trị, huy động toàn thể xã hội tham gia vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, là công cụ pháp lý bảo đảm, khuyến khích mọi người dân chủ động, tích cực, yên tâm tham gia. Tuy nhiên, thực tế để tránh trường hợp lợi dụng quy định trên gây thiệt hại cho người khác, khoản 2 Điều 24 BLHS 2015 nêu rõ “Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Nếu người thực hiện hành vi bắt giữ người phạm tội có gây ra thiệt hại quá mức cần thiết cho người bị bắt giữ nhưng với động cơ tốt thì đây là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được bổ sung tại điểm đ khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 “đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội”. Ngoài ra, trong phần tội phạm cụ thể, BLHS năm 2015 cũng có một số tội bổ sung hành vi liên quan đến việc bắt giữ người phạm tội, như: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136).

f. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Là chế định mới trong BLHS 2015 so với BLHS 1999, cụ thể tại Điều 25 BLHS năm 2015 quy định: hành vi của một người đã gây thiệt hại khi tiến hành, thực hiện việc nghiên cứu, thủ nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa cũng như quy định về không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự..

Các điều kiện để được loại trừ trách nhiệm hình sự theo Điều 25 này gồm có ba điều kiện: một là, hành vi gây thiệt hại trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ phải nhằm mục đích đem lại lợi ích cho xã hội, hai là lĩnh vực của hành vi gây thiệt hại chỉ giới hạn trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, ba là chủ thể đã cố gắng hạn chế thấp nhất những thiệt hại hoặc rủi ro mà có thể lường thấy được, đã tiến hành các biện pháp cần thiết nhất để ngăn ngừa thiệt hại có thể xảy ra và thiệt hại, rủi ro xảy ra nằm ngoài mong muốn của chủ thể.

g.Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

Là chế định mới thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam, được ghi nhận tại Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 2015: Hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự có dấu hiệu nào đó bị pháp luật hình sự cấm trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu TNHS. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu TNHS.

Theo điều luật thì việc thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên chỉ không phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại xảy ra khi có đủ các điều kiện: Thứ nhất, chỉ được áp dụng trong lực lượng vũ trang, đó là trong quân đội và công an nhân dân, còn trong hoạt động dân sự thì việc thi hành mệnh lệnh của cấp trên nếu gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự; thứ hai, thi hành mệnh lệnh để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; thứ ba, người thực hiện hành vi đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó.

Quyết định của cấp trên là đúng pháp luật – trường hợp này có hai khả năng sau:

  • Người thi hành quyết định của cấp trên đầy đủ, đúng phạm vi được giao và đúng pháp luật nhưng gây ra thiệt hại cho xã hội, thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự, do họ không có lỗi.
  • Người thi hành quyết định của cấp trên tự ý thực hiện hành vi vượt quá phạm vi được giao gây ra thiệt hại cho xã hội, thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả do hành vi vượt quá đó.

Quyết định của cấp trên là trái pháp luật – trường hợp này có ba khả năng sau:

  • Người thi hành quyết định của cấp trên không biết được tính chất không đúng pháp luật của quyết định và cũng không có nghĩa vụ phải biết, thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự, do họ không có lỗi, còn người cấp trên phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • Người thi hành quyết định của cấp trên biết được tính chất không đúng pháp luật của quyết định, mà họ vẫn thực hiện và gây ra thiệt hại cho xã hội, thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với cấp trên.
  • Người thi hành quyết định của cấp trên biết được tính chất không đúng pháp luật của quyết định, nên đã không thực hiện, thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, trong phần tội phạm cụ thể, BLHS năm 2015 cũng có một số tội bổ sung hành vi liên quan đến việc thi hành mệnh lệnh của cấp trên. Theo đó, không loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân mà phạm tội phá hoại hoà bình, gây chiến tranh xâm lược (khoản 2 Điều 421); tội chống loại người (khoản 2 Điều 422); tội phạm chiến tranh (khoản 2 Điều 423).

BLHS năm 2015 đã quy định một chương (chương IV) với 07 điều luật về “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự”. Có thể thấy, bên cạnh những hành vi bị coi là tội phạm thì còn có những hành vi tuy hình thức cũng giống tội phạm nhưng bản chất không phải là tội phạm. Những trường hợp này, người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật đất đai để được tư vấn miễn phí:

Công ty Luật Long Phan

Địa chỉ: 81 Cách Mạng Tháng Tám, phường Bến Thành, quận 01, Thành phố Hồ Chí Minh

Website: Chuyentuvanluat.com

Email: Chuyentuvanluat@gmail.com

Hotline: 0908.748.368 (Luật sư Thăng)

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.