1. Hành vi che giấu tội phạm

Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 quy định tội che giấu tội phạm nghĩa là: “Che dấu tội phạm là hành vi không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người PT, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội thì phải chịu TNHS về tội che dấu tội phạm trong những trường hợp mà BLHS quy định.”

Hành vi che giấu tội phạm đối với một số tội danh được liệt kê cụ thể tại Điều 389 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về hành vi che giấu tội phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.

Bên cạnh đó, trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Tuy nhiên, Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác được quy định trong BLHS hiện hành.

Như vậy, tội che giấu tội phạm là hành vi của người tuy không hứa hẹn trước nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Đặc điểm của hành vi che giấu tội phạm là không có sự hứa hẹn trước; Hành vi này được thực hiện khi tội phạm đã kết thúc. Hành vi được biểu hiện dưới hình thức hành động với lỗi cố ý trực tiếp. Không phải hành vi che giấu tội nào cũng cấu thành tội mà chỉ cấu thành tội che dấu tội phạm khi che giấu những tội mà luật đã quy định.

Tội che giấu tội phạm có 4 đặc điểm sau:

  • Không có sự hứa hẹn trước (nếu hứa hẹn trước sẽ trở thành đồng phạm).
  • Chỉ thực hiện sau khi tội phạm kết thúc.
  • Luôn thực hiện bằng hành động.
  • Chỉ cấu thành tội này theo Điều 389 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
  1. Hành vi không tố giác tội phạm

Theo Điều 19 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

“1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

  1. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
  2. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa”.

Ngoài ra, tội không tố giác tội phạm còn được quy định tại Điều 390 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, như sau:

“Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Tội không tố giác tội phạm là hành vi của người biêt rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện mà không tố giác. Hành vi không tố giác tội phạm được thực hiện bằng hình thức không hành động. Lỗi của người không tố giác là lỗi cố ý trực tiếp. Không phải hành vi không tố giác nào cũng cấu thành tội không tố giác mà chỉ cấu thành tội này khi không tố giác những tội nhất định quy định trong BLHS.

Tội không tố giác có những đặc điểm sau:

  • Luôn thực hiện bằng không hành động
  • Có thể thực hiện ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình thực hiện tội phạm mà người kia đã hoặc đang hoặc sẽ thực hiện.
  • Chỉ cấu thành tội này theo Điều 389 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1 Điều 19 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật đất đai để được tư vấn miễn phí:

Công ty Luật Long Phan

Địa chỉ: 81 Cách Mạng Tháng Tám, phường Bến Thành, quận 01, Thành phố Hồ Chí Minh

Website: Chuyentuvanluat.com

Email: Chuyentuvanluat@gmail.com

Hotline: 0908.748.368 (Luật sư Thăng)

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.