Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể sử dụng đất trong xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một hoặc nhiều thủa đất nhất định. Hay nói cách khác, tranh chấp đất đai là tranh chấp quyền sử dụng đất. Tranh chấp đất đai khác với tranh chấp liên quan đến đất đai (hay còn gọi là tranh chấp về đất đai). Những tranh chấp liên quan đến đất đai mặc dù đối tượng tranh chấp chính không phải là quyền sử dụng đất nhưng nó liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly hôn… nên ít nhiều cũng bị chi phối bởi pháp luật đất đai.

Quy định pháp luật về tranh chấp đất đai trải qua hai giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải. Nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp xã, phường nơi có đất tranh chấp để hòa giải;

Giai đoạn 2: Khi tranh chấp hòa giải ở UBND cấp xã, phường không thành, các bên gửi đơn đến UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

Bài viết này phân tích về thủ tục hòa giải ở cấp cơ sở là UBND xã, phường. Thủ tục hòa giải được quy định tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 và Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai như sau:

Bước 1: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp

Căn cứ quy định tại Khoản 1, 2 Điều 202 Luật Đất đai 2013, Nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải. Nếu không tự hòa giải được thì giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Một trong các bên tranh chấp có thể gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Bước 2: Ủy ban nhân dân xã, phường nhận đơn yêu cầu và tiến hành hòa giải

Căn cứ Khoản 1 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

a) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;

b) Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

c) Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.

*Thời hạn thực hiện: Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định tại Khoản 3 Điều 202 Luật Đất đai 2013.

Bước 3: Sau hòa giải

Căn cứ Khoản 2 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản. Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành theo quy định tại Khoản 3 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tại Khoản 57 ĐIều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP.

Hòa giải cấp cơ sở

                          Có bắt buộc hòa giải khi tranh chấp đất đai

Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác. Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Khoản 4 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo căn cứ vào Khoản 4 Điều 88 Nghị định 43/3014/NĐ-CP.

Trên đây là nội dung tư vấn của công ty chúng tôi về hòa giải đất đai. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.