1. Đương sự có yếu tố nước ngoài tranh chấp quyền sử dụng đất

Tranh chấp về quyền sử dụng đất là những tranh chấp giữa các bên với nhau về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó. Trong dạng tranh chấp này chúng ta thường gặp các loại tranh chấp về ranh giới đất; tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong các quan hệ ly hôn, thừa kế; tranh chấp đòi lại đất…

Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất: Dạng tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất như tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất hoặc các tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư…

Theo tinh thần quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP quy định đương sự ở nước ngoài bao gồm:

  • Đương sự là người nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  •  Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  •  Đương sự là người nước ngoài định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  • Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  • Cơ quan, tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự.

Những vụ việc được coi là có yếu tố nước ngoài nếu đương sự không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án (không phân biệt người Việt Nam hay người nước ngoài) hoặc vụ việc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài.

  1. Trình tự, thủ tục tố tụng đối với tranh chấp quyền sử dụng đất có yếu tố nước ngoài

a. Thủ tục hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất

Theo tinh thần quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP quy định đối với tranh chấp quyền sử dụng đất, cụ thể:

+ Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

b. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất có yếu tố nước ngoài

Thẩm quyền chung của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 410 Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 thì thẩm quyền của Toà án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo quy định tại Chương III của Bộ luật này, trừ trường hợp Chương này có quy định khác là không rõ. Bởi vì cá nhân và pháp nhân Việt Nam cũng như nước ngoài khi yêu cầu tòa án Việt Nam giải quyết tranh chấp thì phải giải quyết vấn đề về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam, cần chú ý tới các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia với các quốc gia hữu quan, sau đó mới xét đến chương XXXV Bộ luật tố tụng dân sự 2004. Theo quy định khoản 2 Điều 410 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, tòa án Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết các vụ việc tranh chấp đó khi bị đơn là công dân nước ngoài hoặc nguyên đơn là công dân nước ngoài nhưng không quy định trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam.

Tranh chấp đất đai

                      Thủ tục giai quyết tranh chấp đất có yếu tố nước ngoài

Thẩm quyền tòa án theo cấp, tranh chấp quyền sử dụng đất có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, khi có căn cứ có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, theo tinh thần quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ta có:

  • Đối với tranh chấp về bất động sản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 hoặc điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết.
  • Trong vụ án về hôn nhân và gia đình, thừa kế tài sản,… mà có tranh chấp về bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 hoặc điểm a, b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: (i) Nếu các đương sự không có thoản thuận bằng văn bản thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm; (ii) Nếu các đương sự tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản thì có quyền yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết. Việc thỏa thuận đó không được trái với quy định pháp luật.

c. Hồ sơ tài liệu cung cấp cho Tòa án khi yêu cầu giải quyết tranh chấp

– Đơn khởi kiện theo mẫu số 1 ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

– Tài liệu chứng cứ liên quan đến quyền sử dụng đất và tranh chấp phát sinh.

– Chứng minh thư, hộ khẩu của bên khởi kiện.

– Văn bản xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nơi thường trú (tạm trú) của người bị kiện.

* Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi cho Tòa án Việt Nam

Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi cho Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 478 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, cụ thể:

+ Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam;

+ Giấy tờ, tài liệu được lập ở nước ngoài được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài và đã được hợp pháp hóa lãnh sự;

+ Giấy tờ, tài liệu do công dân Việt Nam ở nước ngoài lập bằng tiếng Việt có chữ ký của người lập giấy tờ, tài liệu đó và đã được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

d. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất

Trước đây theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Bây giờ, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 dẫn chiếu tới Bộ luật Dân sự 2015 mà cụ thể là tại Khoản 3 Điều 155 đã không còn áp dụng thời hiệu đối với giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất. Quy định này được đặt ra nhằm hai mục đích: Một mặt, bảo đảm cho Tòa án có đử thời gian thực hiện việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng ra nước ngoài, thu thập chứng cứ ở nước ngoài; Mặt khác, đương sự ở nước ngoài cũng có cơ hội nhận được văn bản tố tụng trong thời hạn hợp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

* Thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án xét xử vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài quy định tại Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Trong trường hợp, đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật này:

+ Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

  • Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.
  • Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận

Đối với trường hợp đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật này thì thời hạn kháng cáo là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Trên đây là nội dung tư vấn của công ty chúng tôi về vấn đề trên. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.