Đất công ích là quỹ đất nông nghiệp do UBND cấp xã nơi có đất quản lý, sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn đó. Theo Điều 45 Luật Đất đai 1993, HĐND cấp tỉnh sẽ ra một Nghị quyết về việc quyết định cho xã được lập quỹ đất nông nghiệp. Nhưng từ khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thì việc tạo lập quỹ đất nông nghiệp sẽ do mỗi xã tự quyết định. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, phải là đất nông nghiệp. Từ 15/10/1993 đến trước 01/07/2004, quỹ đất nông nghiệp được tạo lập bởi các loại đất trong đất nông nghiệp. Từ 01/07/2004 tới hiện nay thì quỹ đất nông nghiệp chỉ được tạo lập bởi đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản. Theo Khoản 1 Điều 132 Luật Đất đai 2013, nguồn của quỹ đất nông nghiệp là do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trả lại hoặc tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước hoặc đất khai hoang, đất nông nghiệp thu hồi. Cụ thể như sau:

Trường hợp 1, trả lại đất cho Nhà nước. Đây là việc người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất, thuộc trường hợp bị hồi đất. Khi đó tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trả lại đất sẽ làm văn bản trả lại đất. Tổ chức trả lại đất thì UBND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền và ra quyết định thu hồi đất. Hộ gia đình, cá nhân trả lại đất thì UBND cấp huyện sẽ có thẩm quyền và ra quyết định thu hồi đất. Nếu trong khu vực thu hồi đất có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân trả lại đất thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện thu hồi.

Trường hợp 2, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước. Là việc tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân giao quyền sử dụng đất của mình và chuyển quyền đó cho Nhà nước mà không đòi hỏi được đền bù và được Nhà nước đồng ý nhận. Khi tặng cho quyền sử dụng đất thì được thể hiện thông qua hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Hợp đồng này phải được công chứng, chứng thực theo điểm a Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013.

Trường hợp 3, đất khai hoang, đất nông nghiệp bị thu hồi. Khi rơi vào trường hợp bị thu hồi thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định thu hồi.

Thứ hai, được sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn. Về nguyên tắc thì quỹ đất nông nghiệp không được vượt quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản. Nếu chưa sử dụng thì UBND cấp xã cho hộ gia đình, cá nhân trong địa phương thuê trong vòng 5 năm để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; nếu cho thuê trước 01/01/1999 thì theo hợp đồng thuê đất ( có thể trên 5 năm). Khi đó UBND cấp xã sẽ ra quyết định cho thuê đất. Việc thuê đất có thể gia hạn được nhưng nếu không gia hạn thì sẽ thuộc trường hợp bị thu hồi đất.

Nếu vượt quá 5% thì phần vượt quá sẽ được dùng để xây dựng hoặc bồi thường khi sử dụng đất khác để xây dựng các công trình công cộng của địa phương; giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất.

Thứ ba, phải do UBND cấp xã nơi có đất quản lý, sử dụng theo Khoản 4 Điều 132 Luật Đất đai 2013 “ Quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất quản lý, sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt “.

Trên đây là nội dung tư vấn của công ty chúng tôi về vấn đề trên. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.